Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Lịch sử dân Israel

16. Tại sao ta phải biết lịch sử dân Israel?
Thiên Chúa không tỏ bày cho con người biết Ngài cách bất ngờ, đột ngột nhưng qua từng bước theo thời gian, từng giai đoạn nơi lịch sử dân Israel. Biết được những thời kỳ chính của lịch sử này giúp chúng ta hiểu rõ Thánh Kinh hơn.
17.Lịch sử đó có những nét chính yếu nào?
Ta có thể tóm lược lịch sử đó trong bảy chữ:
* Abraham: Năm 1850. BC, Abraham rời thành Ur ở Canđe theo lời mời gọi của Thiên Chúa Gia vê đến xứ Canaan. Ông lập nghiệp tại đây, sinh con cái. Nhưng quãng năm 1780 vì một cơn đói kém, gia đình của Giacop đem nhau sang Ai cập, giao kết với một dân hùng mạnh là

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Dẫn nhập tổng quát về Kinh Thánh

MẠC KHẢI VÀ SÁCH THÁNH

Ðể giúp độc giả, dù tin vào Thiên Chúa hay không, biết mình đang cầm cuốn sách nào trong tay và biết cách đọc và hiểu cuốn Sách Thánh, chúng tôi xin tóm tắt giáo huấn của Công Ðồng Va-ti-ca-nô II về Mặc Khải và Sách Thánh (Kinh Thánh), sau đó chúng tôi giới thiệu đại cương từng phần của Sách Thánh.

1. Ðâu là nguồn gốc của Sách Thánh?

"Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Người (x. Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2Pr 1,4). Trong việc mặc khải này, với tình thương chan chứa của Người, Thiên Chúa vô hình (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15) ngỏ lời với loài người như với bạn hữu. Người đối thoại với họ (x. Br 3,38) để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Người" (MK 2).

Thiên Chúa đã nói với loài người khi nào, qua ai?

"Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử (Giê-su)" (Dt 1,1-2).

Thiên Chúa đã nói cách đây hàng mấy chục thế kỷ, làm sao tôi có thể nghe được hôm nay?

"Thuở xưa" Lời Chúa phán dạy đã tạo thành một dân tộc được tuyển chọn để nghe và giữ lời Thiên Chúa. Lời ấy đã được lưu giữ trong giáo huấn, đời sống và phụng tự của Dân Thiên Chúa trong thời Cựu Ước và đã được ghi chép thành Sách Thánh, tức là sách Cựu Ước.

Còn lời Thiên Chúa đã phán qua Thánh Tử Giê-su đã được truyền lại cho chúng ta nhờ sứ vụ của các Tông Ðồ: "Hoặc qua lời giảng dạy, gương lành và các thể chế, các ngài đã truyền lại những gì đã nhận lãnh từ miệng Chúa Ki-tô, khi chung sống với Người và thấy Người hành động, hoặc đã học biết được nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng; một phần do chính các ngài và những người phụ tá các ngài đã viết lại Tin Mừng cứu rỗi dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh thần" (MK 7). Ðó là sách Tân Ước.

2. Làm sao biết được đây là Sách Thánh?

Hàng ngày trong khi cử hành phụng vụ, sau khi đọc Sách Thánh, người đọc hô lên: "Ðó là Lời Chúa", và toàn thể cộng đoàn đáp lại: "Tạ ơn Chúa." Ðó là một lời tuyên xưng đức tin. "Sách Thánh là Lời Chúa nói. Vì được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần" (MK 9). Như vậy thì chỉ có Thánh Thần mới có thể làm cho Hội Thánh nhận ra "đó là Lời Chúa".

Trong Hội Thánh, Chúa Giê-su đã trao cho các Tông Ðồ và các đấng kế vị quyền giáo huấn để "dạy người ta tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền" (x.Mt 28,20), và đã ban Thánh Thần cho các vị này để thi hành sứ mạng (x.Ga 20,21-22). Thánh Thần đã dùng các vị này để giúp cộng đoàn Hội Thánh dần dần xác định những sách nào là Sách Thánh. Vào thế kỷ IV Hội Thánh Công Giáo đã có những bản kê khai các sách được nhìn nhận là Sách Thánh: đó là quy điển, tức là những sách được Thánh Thần linh hứng và có giá trị để Hội Thánh quy chiếu vào đó mà biết những gì phải tin và những gì phải thực hành trong đời sống. Ngày nay Hội Thánh Công Giáo vẫn trân trọng tôn kính, giữ gìn và tuyên đọc Lời Chúa trong bộ Sách Thánh gồm phần Cựu Ước (46 cuốn ) và Tân Ước (27 cuốn).

3. Sách Thánh trong đời sống của Ki-tô hữu

"Hội Thánh luôn tôn kính Sách Thánh như chính Thân Thể Chúa. Nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Ki-tô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).

Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là hai cách hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh. Tin Mừng theo thánh Lu-ca gợi cho chúng ta điều ấy trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau: Họ thấy lòng mình bừng cháy khi Chúa Giê-su nói với họ và giải nghĩa Sách Thánh cho họ trên đường, và họ nhận ra Người khi Người "cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ" (x. Lc 24,13-32).

Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là của ăn thông ban và nuôi dưỡng sự sống đời đời nơi chúng ta. Trong Cựu Ước, khi dẫn dân Chúa đi trong hoang địa, Thiên Chúa nuôi họ bằng man-na và Lời Chúa: "Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra" (Ðnl 8,3). Trong thời của Giao Ước Mới này, Chúa Ki-tô Phục Sinh đồng hành với dân mới. Người nuôi chúng ta bằng Lời Chúa và bằng Mình Máu Thánh Người. - "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết" (Ga 8,51) - "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51).

"Hội Thánh luôn công bố Lời Chúa khi cử hành các bí tích và các giờ kinh phụng vụ, vì Sách Thánh phân phát cách bất di bất dịch Lời của chính Thiên Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các ngôn sứ cùng các Tôn g Ðồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Hội Thánh cũng như chính đạo thánh Chúa Ki-tô phải được Sách Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực tế, trong các Sách Thánh, Cha trên trời đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ bằng tất cả lòng trìu mến" (Mk 21).

Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã nhắc lại lời thánh Giê-rô-ni-mô: "Không biết Sách Thánh là không biết Chúa Ki-tô" rồi khuyến khích các tu sĩ "hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Sách Thánh" và khẳng định: "Các giám mục có phận sự dạy dỗ cách thích hợp cho các tín hữu đã được trao cho mình biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh, nhất là Tân Ước và trước tiên là các sách Tin Mừng, nhờ các bản dịch. Các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ, để con cái Hội Thánh có thể sử dụng Sách Thánh cách bảo đảm và ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Sách Thánh" (MK 25).

Hội Thánh muốn trao Sách Thánh vào tay mỗi người tín hữu và cả những người ngoài Ki-tô giáo, bởi vì "cũng như đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể thì cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng sẽ có một đà tiến mới nhờ gia tăng lòng sùng kính Lời Chúa", là lời "hằng tồn tại muôn đời" (x. MK 25-26).

4. Làm thế nào để hiểu Sách Thánh?

Sách Thánh là Lời Chúa đã thành lời người, cũng như Ðức Ki-tô là Lời Chúa đã thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Cả hai là công trình của Thánh Thần: Lời Chúa thành lời người do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra; Lời Chúa thành người phàm do Thánh Thần tạo dựng tác động trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a. Công Ðồng khẳng định: "Lời của Chúa diễn tả qua ngôn ngữ của loài người, được đồng hoá với tiếng nói loài người, cũng như xưa Lời của Chúa Cha hằng hữu đã trở nên giống loài người, sau khi nhận lấy sự yếu đuối của xác phàm" (MK 13).

Tính cách "nhập thể" này khiến người ta phải nhờ đến các phương pháp nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, xã hội, các phương pháp phân tích văn chương để "tìm hiểu điều các tác giả Sách Thánh thực sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ" (x.MK12). Công việc này Công Ðồng kêu gọi các nhà chuyên môn thực hiện để giúp những người có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa "truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa cho các tín hữu". Còn chính "những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa? phải gắn bó với Sách Thánh nhờ chăm đọc và ân cần học hỏi? để khỏi trở thành kẻ huênh hoang rao giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe Lời Thiên Chúa trong lòng" (x. MK 23-26).

"Nhưng Sách Thánh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và chú giải trong Chúa Thánh Thần." Muốn thế, phải tôn trọng toàn thể hoạt động của Thánh Thần, nghĩa là "phải ân cần lưu ý đến nội dung, và sự thống nhất toàn bộ Kinh Thánh, dựa trên truyền thống sống động của toàn Hội Thánh và trên sự tương hợp toàn bộ đức tin" (MK 12).

Vậy phải chăng người Ki-tô hữu giáo dân (không phải là giáo sĩ, tu sĩ, nhà nghiên cứu?) đành chỉ chờ nghe giảng dạy chứ không được cầm Sách Thánh trong tay mà đọc? Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã ra lệnh: "Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các Ki-tô hữu" (MK 22). Trách nhiệm của các giám mục là "dạy các Ki-tô hữu biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh? nhờ các bản dịch" (MK 25). Như vậy Công Ðồng khuyến khích mọi Ki-tô hữu trực tiếp tiếp xúc với Sách Thánh.

5. Làm thế nào để được Lời Chúa nuôi dưỡng như lương thực?

Công việc của các nhà nghiên cứu và các người rao giảng là giúp người Ki-tô hữu hiểu Lời Chúa trong Sách Thánh. Nhưng sự hiểu biết đó không sinh ích gì nếu mỗi người không trở thành mảnh đất tốt đón nhận hạt giống Lời Chúa, nghĩa là "những kẻ nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả" (Lc 8,15).

Thánh Phê-rô tuyên xưng: "Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời" sau khi Chúa Giê-su tuyên bố: "Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống" (Ga 6,63.68). Chính vì "tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng" (2 Tm 3,16) và "chính nhờ có Thánh Thần thúc đẩy mà có những người nói theo lệnh của Thiên Chúa" (2Pr 1,21), nên Lời Thiên Chúa có sức thông ban Thần Khí cho chúng ta tương tự như các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Do đó điều trước tiên là chúng ta phải cung kính đọc hoặc nghe với đức tin cũng như khi lãnh nhận các bí tích.

Khung cảnh thuận lợi nhất để đón nhận Lời Chúa là khi cử hành các giờ kinh phụng vụ và các bí tích, vì những lúc ấy tâm hồn chúng ta được chuẩn bị, và phụng vụ nâng đỡ chúng ta.

Ngoài khung cảnh phụng vụ, chúng ta có thể đọc và suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa. Ðây là hình thức đón nghe Lời Chúa trong cầu nguyện đã có từ thời Dân Chúa bị lưu đày ở Ba-by-lon (thế kỷ VI trước CN). Khi không còn phụng vụ tế tự tại đền thờ Giê-ru-sa-lem, Dân Chúa mới chú ý đến lời ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ tụ họp nhau trong Hội đường (ngày sa-bát) để nghe lại Lời Chúa đã phán dạy qua ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ lắng nghe và nghiền ngẫm, đối chiếu với những gì họ đang sống. Nhờ đó họ hiểu được nguyên nhân cuộc sống hiện tại là do tội lỗi của họ gây ra, đồng thời họ tìm được niềm hy vọng vì khi các ngôn sứ răn đe thì cũng công bố lời hứa cứu độ. Như thế Lời Chúa dạy cho họ biết hoán cải và hy vọng. Từ đó họ ăn năn thống hối, cầu xin ơn tha tội, ơn giải phóng, ơn cứu độ?

Trong các văn kiện gần đây, Ðức Gio-an Phao-lô II đã đề cao việc suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa (xem Tông huấn về "đào tạo linh mục" số 47; "Ðời sống thánh hiến" số 94; sứ điệp nhân "ngày quốc tế giới trẻ" 1997 tại Paris, số 6). Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả vài nét về cách suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa này, dựa theo cách giải thích của Ðức Hồng Y Carlo Maria Martini. Có thể phân biệt ba bước trong tiến trình suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa:

a. Ðọc

Bắt lấy những yếu tố quan trọng của bản văn bằng cách chú ý đến các động từ, các chủ từ, các tình cảm, tính cách của hành động, các sự việc nối tiếp nhau vì lý do nào. Nếu chịu khó đọc đi đọc lại, sẽ luôn thấy mới mẻ. Liên tưởng đến những đoạn tương tự trong Sách Thánh giúp ta chuyển từ mạch văn trước mắt đến những viễn tượng rộng lớn hơn, vì toàn Sách Thánh là một cuốn sách duy nhất. Ðây là việc khảo sát bản văn, ai cũng có thể làm được. Có thể nói đọc là tra vấn bản văn.

b. Suy niệm

Khi đọc ta mới chỉ chú ý đến ý nghĩa của các từ ngữ. Suy niệm là nghiền ngẫm về những tình cảm, những hành động, những thái độ do kết cấu của các từ ngữ gợi lên: có thể là thái độ của Thiên Chúa đối với con người: lòng thương xót, sự thành tín, sự công chính; hoặc thái độ của con người đối với Thiên Chúa và với nhau: ngợi khen, cảm tạ, thống hối - phản bội, dối trá, hèn nhát? .

Nghiền ngẫm giúp ta nhận ra những giá trị thường hằng hàm chứa trong bản văn. Sau đó ta đối chiếu với tình trạng bản thân: tôi đảm nhận những giá trị thường hằng đó như thế nào? Ðó là để cho Lời Chúa tra vấn, dạy dỗ, an ủi, mời gọi ta.

Việc suy niệm như thế khơi dậy trong chúng ta những tâm tình, những ước nguyện để thân thưa với Thiên Chúa: ngợi khen, cảm tạ, thống hối, cầu xin, dâng hiến? Lời Chúa đưa ta đến chỗ đáp lại, đối thoại với Người. Ðó là cầu nguyện, như Công Ðồng nói: "Cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Sách Thánh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa khi cầu nguyện và chúng ta nghe Người nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn của Chúa" (MK 25).

c. Chiêm ngắm

Việc nghiền ngẫm và cầu nguyện dần dần tập trung lại trong việc chiêm ngắm chính mầu nhiệm Chúa Giê-su hiện diện trong mọi trang Sách Thánh và nhất là trong sách Tin Mừng. Thánh Thần đưa chúng ta vượt qua bản văn để cảm nghiệm và sống với sự hiện diện của Thiên Chúa đang hành động trong mọi biến cố Sách Thánh kể lại.

Như vậy chúng ta đi từ bản văn đến những giá trị bản văn nêu lên và cuối cùng đến với chính Ðấng hành động trong các biến cố và đang nói với ta.

Bước thứ nhất (đọc) có thể nhờ người giải thích, giúp đỡ. Bước thứ hai (suy niệm chiêm ngắm) mỗi người phải đích thân đi vào với ơn Chúa giúp. Bước thứ ba hoàn toàn do Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta.

Nhờ suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa, mỗi người sẽ được Thiên Chúa đưa vào một kinh nghiệm đích thân gặp gỡ Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta cốt để đưa chúng ta vào mầu nhiệm của Người, chia sẻ cho chúng ta sự sống của Người.

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2010

Những Cái Nhất Của Kinh Thánh

1. SÁCH ĐƯỢC IN NHIỀU NHẤT VÀ BÁN CHẠY NHẤT
Kinh Thánh là cuốn sách có số lượng in nhiều nhất và bán chạy nhất từ trước đến nay. Theo ước tính đã có trên 3 tỷ cuốn Kinh Thánh đã được in ra. Hiện nay, có khoảng 100 triệu cuốn Kinh Thánh được bán ra mỗi năm, và con số này mỗi năm càng gia tăng.

2. SÁCH CÓ SỐ ĐỘC GIẢ ĐÔNG NHẤT VÀ ĐƯỢC DỊCH RA NHIỀU NGÔN NGỮ NHẤT
Với số lượng in nhiều nhất như thế, số người đọc Kinh Thánh cũng đứng hàng đầu. Nếu tính con số tối thiểu cứ mỗi cuốn sách được in ra có ít nhất 2 người đọc, thì trên thế giới đã có trên 6 tỷ người đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh còn là cuốn sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất.

3. SÁCH VIẾT VỀ MỘT TRUYỆN TÌNH HAY NHẤT
Không có lá thư tình nào, truyện tình nào trên thế giới hay và dài như những lá thư, truyện tình trong Kinh Thánh. Chúa Giêsu nói: “không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu người hiến mạng sống mình vì người yêu”. Và chính Ngài đã làm điều đó để chứng minh tình yêu Thiên Chúa dành cho ta.

4. SÁCH HỢP THỜI NHẤT
Mặc dù Kinh Thánh đã hơn 2000 năm, thế nhưng một điều kỳ diệu là những Lời Kinh Thánh không lỗi thời nhưng lại rất hợp thời. Những lời trong Kinh Thánh vẫn rất đúng và vẫn được đem ra áp dụng trong đời sống hàng ngày.

5. SÁCH CÓ QUYỀN NĂNG NHẤT
Tất cả những sách có mặt trên mặt đất đều không có quyền năng vì là những lời của con người. Lời Kinh Thánh đầy quyền năng vì là Lời của Thiên Chúa hằng sống, uy quyền, và vinh quang muôn ngàn đời. Lời Kinh Thánh có quyền năng tha thứ, chữa lành, biến đổi, cho kẻ chết sống lại và mang đến ơn Cứu Độ.

6. SÁCH NÓI VỀ THIÊN CHÚA HAY NHẤT
Nếu bạn đã từng đi tĩnh tâm nghe một bài thuyết giảng hay nhất về Thiên Chúa của một người nổi tiếng nhất thì tất cả những điều bạn nghe đều xuất phát từ cuốn Kinh Thánh. Một bài giảng về Thiên Chúa mà không có điểm tựa từ Kinh Thánh là một bài giảng “ trật đường”. Không ai có thể biết và viết về Thiên Chúa nếu không được mạc khải cho. Và Thiên Chúa chính là tác giả của sách Kinh Thánh.

7. SÁCH NÓI VỀ BẠN HAY NHẤT
Càng đọc Kinh Thánh, bạn càng khám phá ra những lời trong Kinh Thánh đang nói về bạn và cho chính bạn. Bạn đang đau khổ, buồn sầu, tội lỗi, chán nản hay vui sướng, bình an… tất cả những điều đó bạn đều tìm thấy trong Kinh Thánh.

8. SÁCH QUAN TRỌNG VÀ GIÁ TRỊ NHẤT
Chúa Giêsu nói: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Nói cách khác, nếu bạn chỉ ăn để sống mà thiếu niềm tin và sống Lời Chúa thì bạn đang chết một nửa đời. Một nửa đời bạn đang chết đó là linh hồn bạn đang thiếu của ăn Lời Chúa.

9. SÁCH ĐẮT GIÁ NHẤT
Kinh Thánh được viết vì bạn và cho bạn một cách nhưng không. Phú quý, giàu sang, nghèo nàn, thất học đều có thể đọc. Thế nhưng, Kinh Thánh là sách đã được trả giá đắt nhất không phải về giá trị vật chất thế gian nhưng là bởi Máu và Cái Chết của Chúa Giêsu.

10. SÁCH NÓI VỀ QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI CHẮC CHẮN NHẤT
Không một thầy bói, nhà chiêm tinh nào có thể nói về quá khứ và tương lai đúng và chắc chắn nhất như sách Kinh Thánh. Vì ngay cả số mệnh, cuộc đời của họ cũng nằm trong cuốn Kinh Thánh. Bạn muốn đi đúng đường, đúng hướng, có tương lai chắc chắn hãy tìm đọc Kinh Thánh.

11. SÁCH CÓ NHIỀU SÁCH NHẤT TRONG MỘT CUỐN SÁCH
Kinh Thánh là sách có nhiều cuốn sách nhất trong một cuốn sách. Tổng cộng có 73 cuốn Kinh Thánh: 46 cuốn Cựu Ước và 27 cuốn Tân Ước.

12. SÁCH DUY NHẤT ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG ĐỜI ĐỜI CHO BẠN
Không ai trên đời có thể bảo đảm cho bạn sẽ được sống đời đời và cũng không ai trên đời có thể cứu bạn khỏi sự chết đời đời. Chỉ có một mình Chúa Cứu Thế Giêsu duy nhất mới bảo đảm được điều đó. Những ai tin, tuân giữ Lời Ngài và đón nhận Ngài là Cứu Chúa của đời mình thì sẽ được sống đời đời.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Lười biếng - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Lâu rồi, gã có đọc trên một vài tờ báo và đã lượm được một mẩu suy gẫm về cuộc sống hôm nay, đại khái như thế này :


Hiện giờ,
Chúng ta có nhà cao hơn, nhưng nhân cách lại nhỏ hơn.
Chúng ta có nhà to hơn, nhưng gia đình lại nhỏ hơn.
Chúng ta có nhà sang trọng hơn nhưng tổ ấm lại đổ vỡ nhiều hơn.
Chúng ta có đường phố rộng hơn, nhưng quan điểm lại hẹp hơn.
Chúng ta mua sắm nhiều hơn, nhưng hưởng thụ lại ít hơn.
Chúng ta có nhiều tiện nghi hơn, nhưng lại ít thời gian nhàn rỗi hơn.
Chúng ta có nhiều bằng cấp hơn, nhưng lại kém ý thức hơn.
Chúng ta hiểu biết nhiều hơn, nhưng lại kém suy xét hơn.
Chúng ta có nhiều nhân tài hơn, nhưng lại ít sáng tạo hơn.
Chúng ta có nhiều thuốc men hơn, nhưng sức khỏe lại kém hơn.
Chúng ta có nhiều của cải hơn, nhưng lại thiếu nhân bản hơn.
Chúng ta nói quá nhiều, nhưng lại yêu quá ít.
Chúng ta biết cách kiếm sống, nhưng không biết xây dựng cuộc đời.
Chúng ta sống thọ hơn, nhưng lại sống ít ý nghĩa hơn.
Chúng ta chinh phục được vũ trụ, nhưng không thắng được cõi lòng.
Chúng ta làm được những việc lớn hơn, chứ không phải là tốt hơn.
Chúng ta làm sạch không khí, nhưng lại gây ô nhiễm trong tâm hồn.
Chúng ta đã tách nguyên tử, chứ không loại bỏ được thành kiến.
Chúng ta viết nhiều hơn, nhưng học ít hơn.
Chúng ta dự tính nhiều hơn, nhưng thực hiện ít hơn.
Chúng ta chỉ biết vội vã, nhưng không biết chờ đợi.
Chúng ta có thu nhập cao, nhưng đạo đức lại thấp.
Chúng ta có nhiều thức ăn hơn, nhưng lại kém dinh dưỡng.
Chúng ta có nhiều thức ăn nhanh, nhưng lại tiêu hóa chậm.
Chúng ta chuộng số lượng, mà quên mất chất lượng.
Chúng ta có lắm lợi nhuận, nhưng quan hệ lại hời hợt.
Chúng ta có nhiều phương tiện giải trí, nhưng lại ít niềm vui.
Chúng ta có thu nhập gấp đôi, nhưng chia ly lại nhiều hơn.
Chúng ta bên ngoài thì hào nhoáng, nhưng bên trong lại rỗng tuếch.
Chúng ta cổ võ cho hòa bình thế giới, nhưng nội chiến vẫn triền miên.
Chúng ta làm được những việc phức tạp, nhưng lại không làm được những việc đơn giản với đồng loại.
Chúng ta uống quá nhiều, hút quá mức, chi quá lố, cười quá ít, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, đọc quá ít, xem truyền hình quá nhiều và lái xe quá nhanh.
Chúng ta đã đi lên mặt trăng và quay trở về, nhưng lại cảm thấy phiền hà khi băng qua đường gặp người hàng xóm mới đến.
Chúng ta có nhiều máy tính để lưu trữ thông tin nhằm cung cấp những bản sao, nhưng lại ít liên lạc thân tình hơn.


Đây là thời của những chuyến du hí chớp nhoáng, của khăn dùng một lần, của buông trôi đạo đức, của những chỗ dừng một đêm, của những cơ thể béo phì và của những loại thuốc kích thích, an thần để giết người.


Và rồi tác giả đã kết luận :
- Thời đại công nghệ mang lại cho bạn thông điệp này và cũng là thời đại bạn phải lựa chọn : hoặc là sống khác đi, hoặc là sẽ buông xuôi.


Riêng phần gã, trong bài này, gã muốn thêm một chi tiết nho nhỏ khác nữa, đó là :
- Hiện nay chúng ta có quá nhiều máy móc, nhưng lại lười và làm biếng hơn bao giờ hết.


Thực vậy, ngày xưa cha ông chúng ta cuốc bộ dăm bảy cây số là chuyện nhỏ, còn ngày nay người ta đi vài ba trăm mét cũng phải vội leo lên xe. Ngày xưa người vợ hay người mẹ trong gia đình phải quét dọn và lau chùi nhà cửa, cũng như giặt giũ áo quần bở hơi tai, toát cả mồ hôi hột, còn ngày nay người ta chỉ cần mở máy hút bụi hay ném vào máy giặt…loáng một chốc là xong.


Chẳng thế mà trong một bài viết mang tựa đề là “Nghệ thuật làm biếng” trên báo Kiến thức Ngày Nay, thiên hạ đã đưa ra một nhận xét như sau :
“ Kỳ lạ nhất là trong lúc người có vẻ hoạt động hơn khi rỗi rảnh, thì khoa học kỹ thuật lại mang đến những cải thiện khuyến khích sự…lười biếng như máy giặt, máy rửa chén, máy hút bụi…Thậm chí kỹ thuật hiện đại đã tiêu diệt hoàn toàn những cố gắng ít nhất về sức lực : đi vài trăm mét cũng leo lên xe hơi chứ không đi bộ, dùng thang máy để lên lầu, dùng “remote control” điều khiển TV và video vì sợ phải di chuyển chỉ vài bước chân! Nhiều nhà xã hội học cho rằng con người càng lúc càng béo phì là do cuộc sống “chây lười” kiểu đó tạo ra.”


Vậy thế nào là lười biếng ?
Mở tự điển ra gã ghi nhận như sau :
- Lười là biếng nhác, ham ở không, sợ làm việc.
- Còn biếng là lười, trễ nải, uể oải, không thiết đến việc làm.
Tác giả đã trích dẫn một câu tục ngữ để minh chứng :
- Những người lêu lổng chơi bời,
Cùng là lười biếng, ta thời tránh xa.
Nói tóm lại, lười hay biếng thì cũng hao hao giống nhau, nghĩa là thích ở không, thích hưởng nhàn và ngại làm việc, ngay cả những việc cần thiết nhất như tắm rửa, vệ sinh thân thể của mình.


Tục ngữ ca dao Việt Nam đã đưa ra những nét chấm phá về họ như sau :
- Ăn như rồng cuốn,
Làm như cà cuống lội ngược.
- Ăn thì lựa những miếng ngon,
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
Như thế còn đỡ, chứ như thế này thì quả thực là “siêu đẳng” :
- Ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng,
Có ai lấy tớ, thì khiêng tớ về.
Còn người phương Tây cũng diễn tả về họ như thế này :
- Kẻ lười biếng, như con đà điểu, khi phải bay thì nói : tôi là một con lạc đà. Còn khi phải mang nặng thì bảo : tôi là một con chim.


Cách đây không lâu, báo Phụ Nữ Chủ Nhật có đưa ra một mẫu gương “điển hình tiên tiến” cho cái sự làm biếng. Nhân vật này quả thực đã “lươi huyền” tới trình độ siêu đẳng mà có lẽ trong cả và thiên hạ không ai sánh bằng.


Mẩu tin ấy như sau :
“Làm biếng hết cỡ. Danh hiệu này có lẽ rất xứng đáng được trao cho gã thuê nhà của ông lão bảy mươi tám tuổi Camille de Roey ở thành phố Strombeek-Bever thuộc nước Bỉ.


Suốt mười bốn năm qua, gã thuê nhà bốn mươi tuổi này đã không hề quét dọn bất chấp lời kêu gọi hay đe dọa của ông chủ! Ông chủ nhà De Roey đã phải dùng biện pháp cắt điện từ năm 1992, nhưng vẫn không lay chuyển được tính…làm biếng của gã thuê nhà cứng đầu.


Cúp diện ư ? Gã ta nối dây với máy điều nhiệt ở hệ thống cung cấp khí nóng để xài đỡ.


Thậm chí ông chủ đã phải dùng đến biện pháp nhờ cậy hội đồng thành phố và cảnh sát làm áp lực “tống khứ gã thuê nhà ra khỏi cửa”, nhưng gã ta vẫn bình chân như vại.


Mãi tới ngày 28 tháng 4 năm 2002, “gã sống khắc khổ” ấy không còn đủ tiền để trả, nên đã tự động xách va-li ra khỏi nhà. Tuy nhiên, “tài sản” gã ấy để lại là đống rác khổng lồ với hàng trăm chai rỗng, lon đồ hộp, thức ăn dư thừa và rác bẩn chất lên đến tận trần.”


Vậy sự lười biếng sẽ đem lại những hậu quả như thế nào ?
Nhìn dưới góc độ tích cực, sự lười biếng đôi khi cũng đem lại một chút hậu quả tốt đẹp và cần thiết cho con người.


Chẳng hạn, theo tác giả Lê Lộc, đối với những người bị “tress” do làm việc quá căng thẳng, thậm chí đối với những ai có nỗi buồn ray rứt, các bác sĩ khuyên họ hãy buông bỏ tất cả và hãy đi nghỉ hè như những cô cậu học trò. Đây là một nhu cầu có thật và hữu ích để giải tỏa tâm trí, thúc đẩy một nguồn sinh lực mới để đi tiếp trong cuộc sống.


Chẳng hạn, sau một buổi sáng miệt mài làm việc, thì giấc ngủ ban trưa cũng là điều cần thiết để được thanh thản và hăng say cho công việc ban chiều. Trong một bản nhạc, có nốt bổng thì cũng có nốt trầm, nếu cứ bổng mã thì sẽ phải gân cổ ra mà hát. Sợi dây cung có lúc căng thì cũng phải có lúc chùng, nếu cứ căng mãi thì sẽ đứt…


Sau đệ nhị thế chiến, dân Nhật bản hùng hục xây dựng lại đất nước, làm ngày không đủ họ bèn tranh thủ làm đêm, thành thử đầu óc họ lúc nào cũng căng thẳng. Số người bị “tress” và tự tử ở đất Phù Tang này rất cao, mặc dầu cuộc sống vật chất của họ chất rất đầy đủ. Và thế là họ bèn mở mắt ra và quyết định làm việc ít thôi, còn dành thời giờ…làm biếng, để nghỉ ngơi và đi du lịch nơi này nơi khác cho cuộc sống được trở nên tươi hồng và đáng sống.


Tại thành phố Medellin nước Colombia, hàng năm người ta tổ chức “ngày làm biếng”. Đó là ngày mà chẳng ai muốn làm việc, một ngày hội được ra đời từ năm 1985, nhằm phản đối tình trạng thất nghiệp và công nhân bị đuổi việc tràn lan. Để ủng hộ cho “ngày lười biếng” này vào trung tuần tháng tám vừa qua, các nghệ sĩ nỗi tiếng của thành phố đã tham gia biểu diễn trên đường phó. Tiết mục biểu diễn của họ mang đúng ý nghĩa của ngày hội : không ai làm gì cả ngoài việc ngồi đọc báo!!!
Cũng trong chiều hướng ấy, cũng theo tác giả Lê Lộc trên báo Kiến Thức Ngày Nay, suốt thập niên 60, phong trào “hippie” của giới trẻ phương tây đã tẩy chay các hình thức lao động áp dụng trên toàn xã hội, để bày tỏ sự tự do và đời sống cá nhân phong phú.


Tại Pháp, trong làn sóng biểu tình phản đối nổi tiếng vào tháng 5 năm 1968, nhà xã hội học Paul Lafargue có đề ra “quyền được lười biếng”, rất được giới trẻ hoan nghênh. Không hiếm các kiến nghị của giới trẻ đòi hỏi làm việc mỗi ngày…hai tiếng đồng hồ, còn bao nhiêu thời giờ khác thì để nghỉ ngơi và giải trí.
Tuy nhiên, phong trào phản kháng này rất nhanh chóng bị phai mờ do cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1973 và nạn thất nghiệp gia tăng.
Hậu quả tích cực của chuyện làm biếng là như thế. Còn hậu quả tiêu cực thì sao ?


Hậu quả tiêu cực thứ nhất, sự lười biếng là nguồn gốc sinh ra những thói hư tật xấu về tinh thần, như các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Nhàn cư vi bất thiện.
Chẳng riêng gì các cụ ta ngày xưa, mà hầu như cả và thiên hạ đều nói như vậy. Chẳng hạn người Tàu thì bảo :
- Lười biếng chính là mồ mả sống động vậy.
- Trăm chứng bệnh hư hỏng đều do lười biếng mà sinh ra.
Còn người Tây thì nói :
- Lười biếng là một người mẹ có một con trai là thằng ăn cắp và một con gái là cái đói nghèo.
- Một trí tuệ tầm thường mà chuyên cần có thể tiến xa hơn một trí tuệ thông minh nhưng lười biếng.
Kinh nghiệm đời thường cũng cho thấy : vì nhàn rỗi nên đờn ông mới tụm năm tụm bảy để mà cờ bạc hay chè chén say xưa, còn đờn bà mới tụm hai tụm ba để mà nói hành nói xấu người khác…Và mọi bất ổn đều bởi đó mà ra cả.
Hậu quả tiêu cực thứ hai, sự lười biếng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo túng về vật chất, như các cụ ta ngày xưa cũng đã nói :
- Giàu đâu tới kẻ ngủ trưa,
Sang đâu tới kẻ say sưa tối ngày.
Thực vậy, không làm việc thì đào đâu ra tiền, giữa một thời buổi gạo châu củi quế. Và như vậy cái nghèo như đã được nắm chắc trong lòng bàn tay của những kẻ lười biếng. Đúng thế :
- Kẻ lười biếng đi chậm đến nỗi sự nghèo túng đuổi theo kịp.
- Kẻ lười biếng là anh ruột của tên ăn mày.
- Tuần lễ của người làm việc có bảy ngày hôm nay, còn tuần lễ của kẻ lười biếng của bảy ngày mai.
Khi lâm vào tình trạng nghèo túng, thì chính bản thân mình phải phấn đầu, phải chịu khó làm việc thì mới hòng thoát ra, chứ còn biếng nhác theo kiểu “há miệng chờ sung” thì chỉ có nước “khố rách áo ôm” mà thôi.


Hình như “Lã Phụng Tiên” có một câu chuyện ngụ ngôn kể lại rằng : ngày kia, chú nhái bén rớt vào một thùng sữa bò. Cứ sự thường thì chú sẽ bị chết chìm, thế nhưng chú vẫn ra sức vùng vẫy với một chút hy vọng le lói là sẽ được cứu thoát.
Và sự thật đã xảy ra đúng như chú mong ước. Nhờ sự vùng vẫy của chú mà thùng sữa bò bỗng đông đặc lại thành bơ và chú đã trèo ra một cách dễ dàng.
Vì thế mà người ta mới bảo :
- Hãy tự cứu lấy mình, rồi trời sẽ cứu.
Kẻ lười biếng đã lãng phí thời giờ của mình một cách vô ích. Mà thời giờ là một cái gì rất ư là quí giá. Người Tây thì bảo :
- Le temps, c’est l’argent. Thời giờ là bạc.
Còn người Tàu thì nói :
- Nhất thốn quang âm nhất thốn kim. Một tấc thời gian là một tấc vàng.


Trong thực tế, thời giờ có lẽ còn quí hơn cả vàng lẫn bạc. Mới đây, tác giả Nguyễn Tiến Hữu đã đưa ra vài con số “kinh hoàng” mà con người trên thế giới đã làm được trong một phút.
Phải, trong một phút người ta đã sản xuất ra :
- 61.000 lít rượu vang.
- 210.000 lít bia.
- 4 tấn ca cao.
- 11 tấn cà phê hột.
Và đã nốc vào bụng 1,6 triệu tách cà phê.
Người ta ăn hết bao nhiêu trong một phút ? Không biết. Nhưng con người đã giết chết cơ man nào là súc vật lớn bé để sản xuất ra :
- 117 tấn cá.
- 314 tấn thịt đủ loại.
- 14 tấn xúc xích thịt heo.
Con người còn nhờ đàn gà đẻ giùm 1,7 triệu quả trứng để ăn với 680.000 ổ bánh mì ban sáng.
Tất cả chỉ trong một phút.
Không chỉ biết ăn, con người còn biết chơi. Và chơi cũng không kém phần vĩ đại. Chỉ trong một phút, họ cho ra lò :
- 165 chiếc xe đạp để đi.
- 62 chiếc ô tô để chạy.
- 178 chiếc tivi để xem.
- 281 chiếc radio để nghe.
- 7.935 đôi giày để mang.
- 126 máy điện thoại để nói chuyện thoải mái.


Con mắt, đôi chân, cái tay đều có điều kiện tiêu khiển, thì cái miệng nó ghen.Con người lại phải cật lực sản xuất thêm trong một phút :
- 15 tấn thuốc lá, tương đương với 21.000 điếu xì gà bự và 10 triệu điếu thuốc lá để phì phèo.


Hút thuốc chưa đủ, cái miệng còn đòi nhấm nháp lúc xem tivi. Và thế là cứ một phút cái miệng ngốn hết 252 ký đậu phộng! Nhưng so ra chẳng thấm vào đâu so với họ sản xuất được 45 tấn đậu phộng trong một phút.


Chưa hết chuyện, cái tóc con người vẩn tiếp tục mọc. Nó mọc đến 1,1 cây số chỉ trong một phút ngắn ngủi.


Từ những con số kinh hoàng kể trên, người Đức có câu tục ngữ khá sâu sắc :
- Ai không biết quí trọng một phút, người đó chẳng đáng sống một giờ.


Kẻ lười biếng luôn tiêu dùng những sản phẩm do tay người khác làm ra, như : gạo, trà, đường, sữa, xăng, dầu…thế mà hắn lại chẳng làm ra được một chút gì cả, vì thế đối với xã hội, kẻ lười biếng chính là một tên ăn cắp chính hiệu con nai vàng ngơ ngác.


Tới đây, gã xin ghi lại một mẩu chuyện nho nhỏ :
“Ở dơ như hủi. Chỉ tắm một lần một tuần, nếu cần thiết. Một người tồi”.
Đó là lời tự quảng cáo để tìm bạn đời của ông Reason, 63 tuổi ở thành phố Aberdeen, nước Úc.
Thế nhưng, lời quảng cáo này lại hấp dẫn phái nữ mới lạ chứ.
Vô cùng ngạc nhiên vì chỉ sau một vài ngày những lời quảng cáo này được đăng trên mục tìm bạn bốn phương, ông đã nhận được không biết bao nhiêu thư điện tử.


Sau khi nói chuyện qua điện thoại và email qua lại, ông quyết định sẽ hẹn gặp mặt 7 người “dường như tâm đầu ý hợp” vào tháng chín.
Quí bà quí cô cho biết sở dĩ mình quyết định làm quen vì :
- Anh ấy có vẻ thật thà và có óc hài hước khi mô tả về mình”.
Ôi, cái làm biếng cũng có tí lợi đấy chứ và đờn bà con gái đúng là khó hiểu thật.
Để kết luận, gã xin trích một mẩu trong báo Kiến Thức Ngày Nay như sau :
“Lười biếng tạo ra các hậu quả sinh lý cho cơ thể con người và cho xã hội. Nhưng lười biếng không phải lúc nào cũng tiêu cực. Vấn đề là phải biết…lười cho đúng lúc.
Bạn đang “tấn công tình cảm ráo riết” một cô gái, cô ta sắp sửa xiêu lòng mà bạn lại lăn ra ngủ và ngáy khò khò, thì quả thực bạn vừa lười lại vừa chẳng giống ai!


Tuy nhiên, khi mơ màng nhìn trăng sao mà suy nghĩ :
- Mình là ai ?
- Mình từ đâu mà đến ?
- Và mình sẽ đi về đâu ?
Ai dám bảo họ là kẻ lười biếng ?
Vì nếu như thế, thì tất cả các bậc hiền nhân quân tử cao quí xưa nay đều không được….siêng cho lắm.

Forum - Chuyện phiếm góp nhặt

Không phải là vô lý khi Bill Gates nói với giới trẻ Singapore cách đây vài năm, rằng các bạn thuộc về “Generation I”, thế hệ I, và ông giải thích, là thế hệ của Internet. Thật vậy, trong thời đại này, việc ứng dụng của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông đi cùng với nó đã mở cho con người một thế giới thật hơn mà cũng ảo hơn, một thế giới gần nhau hơn mà cũng xa vời vợi, một thế giới yêu thương hơn mà lại cũng dễ đổ vỡ hơn. Tại sao thế?

Chúng tôi không phân tích những tiện ích mà máy tính và mạng lưới điện toán mang lại cho loài người nói chung, mà chỉ xin dừng lại chỗ “Forum”, diễn đàn. Lướt một vòng các forum, thiên hạ tá hoả nhìn thấy có đủ loại forum, thượng vàng hạ… sữa melamine. Có những forum để ca ngợi lòng thương xót Chúa, nhưng cũng có forum cho thiên hạ bêu xấu Hội Thánh và các môn đệ của Chúa Kytô; có những forum đề cao đạo học, nhưng cũng có forum ăn chơi trác táng; có forum dạy cách buôn vàng, bán ngoại tệ, nhưng cũng có forum bàn về cách đổi điện thoại cho hợp thời v.v… Quả thật, tất cả thế giới thật của con người đã gom vào trên cái màn hình nhỏ xíu ấy, phơi bày tất cả những gì tâm can con người có thể nghĩ đến được. Và cũng do vậy mà nó lại ảo vô cùng, bởi vì có khi thực tại ấy chưa hình thành thì đã thành hoang tưởng. Những forum ấy kéo con người lại với nhau. Cha Teilhard de Chardin thật nhìn xa trông rộng khi ngài viết: “Tất cả những gì lên cao thì gặp nhau”. Cha Hoàng Xuân Nghiêm dịch từ tiếng Pháp “Tout ce qui monte converge” ra tiếng Hán Việt là “đăng giả hội”. Do đó, đúng là forum đem con người lại gần nhau, tụ hội cùng nhau. Nhưng nếu không kéo nhau lên đến Chân, Thiện, Mỹ thì cái gần nhau ấy sẽ hoá ra là cái gần giả tạo, cái gần để cám dỗ nhau, cái gần của Eva và con rắn. Và đã gần mà không “đăng”, không “hội”, không tụ lại trong một lý tưởng chung thì sự đổ vỡ là tất yếu.

Tôi không muốn nhắc lại Thái Hà như kim chỉ nam của các bài viết, sợ đã nhắc đến quá nhiều, nhưng xin phép được chọn Thái Hà như một tiếng gọi của công lý. Tiếng gọi ấy đã vang lên đến tận cùng bờ cõi đất (cf. TV. 19). Ngày xưa, Giuse bị anh em bán cho lái buôn Ai cập, chia rẽ đau thương là thế, lại biến thành ơn huệ cho dân Thiên Chúa, và họ đã được cứu nhờ biết “đến cùng Giuse” (cf. St. 41). Người viết bài này không muốn so sánh dân Việt tan tác muôn nơi như Giuse ngày xưa ra đi để chuẩn bị cho ngày dân Chúa cần tìm đến, nhưng trong số những người Việt ra đi ấy, có những con người, những cộng đoàn nhiệt tâm làm cho tiếng công lý của Thái hà vang đến các hang cùng ngõ hẻm của các nước thế gian. Anh Hoàng Ngọc Hội, cựu chủng sinh Đà nẵng tại Hoa Kỳ, đã ý thức sâu xa rằng khi anh giơ cao ngọn nến trong đêm cầu nguyện cho công lý và hoà bình nơi đất khách quê người. Lúc đó anh và bạn bè, vừa tha thiết cầu nguyện vừa gửi một thông điệp cho trần gian. Hình ảnh ấy được gửi đến một forum, những tưởng tất cả thành viên đếu trân trọng và hiệp thông, nhưng bất ngờ, anh đã đau đớn gỡ xuống ngay chỉ vì một hai thành viên có mặc cảm với các linh mục, đã lên tiếng đùa cợt. Như thế, cái thật của một tấm lòng, cái yêu thương của một trái tim, cái nền móng để xây dựng cộng đoàn, bỗng chốc biến thành cái ảo, cái xa cách và cái đổ vỡ đến tận cùng của mọi đổ vỡ.

Tại sao các forum lại thu hút con người đến thế? Một trong những lý do là cái ảo của nó. Khi anh vào forum, anh dùng một cái “nick” và một giọng điệu xa lạ với chính con người anh hiện diện trên cõi trần này. Hoặc là anh là chính anh, nhưng mức độ an toàn khá cao, vì không ai có thể phản ứng ngay với những điều anh đề cập. Và nếu cần thì anh phủ nhận dễ dàng sau đó, và rồi khi “offline” thì ngay cả con người thật của anh trên forum và con người thật ở ngoài đời, xin nhấn mạnh cả hai cùng thật, có khi lại hoà làm một trong một cách thức thật khác, lại rất khác với chính anh. Rồi ai cũng quên đi. Forum mà. Nhưng ít ai chú ý rằng cái mình viết ra, dù ít người đọc, mà ít thật, chỉ năm mười người, vẫn có ảnh hưởng đến một tình cảm, một trái tim và ngay cả một cuộc đời.

Tôi gọi những dòng chữ này là chuyện phiếm, vì cũng chỉ là vài ý nghĩ khi xem qua những diễn đàn. Nhưng ước chi những người tham gia vào các forum, dù không phải viết văn viết báo gì cả, nhưng cũng hiểu rằng có một tâm hồn thiện chí muốn đọc lời đó. Hãy trao cho nhau tiếng yêu thương, tiếng chân thành. Và cũng xin hiểu rằng người mà bạn muốn nhắm đến, một người bạn cũ hay một linh mục của Chúa Kytô, một em bé hay một anh chàng bạn ghét, vẫn mang một nhân vị được giá Máu Chúa Kytô cứu chuộc, và nhân vị ấy đang hướng về Siêu Việt (cf. Học Thuyết Xã Hội của GHCG, chương 1).

GIẤC MƠ LÀM…RỒNG - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Hình như số báo xuân nào, người ta cũng phải tán hươu tán vượn về con giáp.
Chẳng hạn năm nay là năm Canh Thìn, cầm tinh con rồng, thì chắc chắn là phải đá động tới loài động vật “huyền thoại” này.
Viết không giống như vẽ.Thực vậy, chuyện xưa tích cũ kể lại rằng ngày kia người ta hỏi một ông họa sĩ có tài và nổi tiếng :
- Theo ông, thì vẽ cái gì khó nhất ?
Ông họa sĩ trả lời :
- Vẽ người.
Người ta lại hỏi tiếp :
- Còn vẽ cái gì dễ nhất ?
- Vẽ ma, vẽ quỉ.
Đang khi người ta thắc mắc thì ông họa sĩ liền cười hề hề mà giải thích :
- Người thì sống lù lù trước mắt, nếu mình vẽ không giống thì thiên hạ sẽ chê mình là hạng “thợ vẽ thứ dổm”, nên chi vẽ người là việc rất khó. Còn ma quỉ là loài chẳng ai trông thấy, nên muốn vẽ gì thì vẽ, thêm râu thêm ria, thêm sừng thêm cẳng cũng chẳng ai hay. Ấy vậy cho nên vẽ ma vẽ quỉ là việc dễ nhất.
Nghe xong lời giải thích này, người ta bèn lấy làm “khẩu phục tâm phục” ông họa sĩ hết cỡ.
Nhưng trong lãnh vực viết lách thì khác. Giá như lúc này gã được viết nhăng viết cuội về con mèo, con dê hay con…lợn, là những con vật sống quanh chúng ta thì dễ dàng biết bao nhiêu, bởi vì trong hồ sơ lưu trữ, lý lịch và tài liệu về những con vật này quả là phong phú và hay ho.
Chứ còn viết về…rồng, một con vật được liệt vào hàng “cổ tích” thì thực là rỗng tuếch, chẳng có tí ti chất liệu nào cả.
Thế nhưng, phép vua thua lệ làng. Cái lệ của làng báo là đầu năm phải xông đất và điểm mặt con vật cầm tinh. Và như vậy, gã đành phải “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, phệu bừa phệu bãi được tí nào hay tí nấy, bởi vì méo mó có hơn không.
Chẳng hiểu ngày xưa thì thế nào, chứ còn bây giờ gã xin cam đoan cả hai tay lẫn hai chân rằng : chưa một ai đã được nhìn thấy rồng. Thế mà rồng lại len lỏi vào mọi nền văn hóa và có mặt ở khắp mọi nơi mọi chốn, bên tây cũng như bên ta, mặc dù hình thù có khác nhau đôi chút.
Theo tự điển “Larousse” của mấy ông tây, thì rồng là một con vật hoang đường, hình rắn nhưng lại có cánh và có đuôi.
Còn theo Tự điển Việt Nam của Lê văn Đức, thì phe ta xem rồng là một con vật mình dài, có vảy to, miệng rộng, một sừng, chân có vấu, được sinh ra ở dưới nước nhưng lại biết bay trên mây.
Rồng lại còn được mấy chú ba tàu xếp vào hàng đầu trong tứ linh, bốn con thú linh thiêng, đó là long, ly, quy, phụng :
- Áo đen năm nút con rồng,
Ở xa con phụng, ở gần con quy.
Dù hình dong bên ngoài hơi khác nhau vài ba tí, chẳng hạn như có cánh hay không có cánh, có sừng hay không có sừng, có chân hay không có chân…thì rồng vẫn được mọi người quí mến :
- Bao giờ cá lý hóa long,
Đền ơn Cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.
Và từ chỗ quí mến ấy, hầu như mọi người Việt Nam chúng ta đều rất thích mơ được làm…rồng.
Thực vậy, dân tộc nào trên mặt đất này cũng có niềm tự hào riêng về gốc gác, về cội nguồn của mình.
Chẳng hạn như dân Nhật bản chính gốc Phù tang luôn hãnh diện vì mình là con cháu của “Thái dương thần nữ”. Thảo nào mà lá cờ của họ chỉ có mỗi một hình tròn đỏ, tượng trưng cho Mặt trời, nổi bật trên nền trắng.
Chẳng hạn như dân Pháp chính gốc Phú lãng sa luôn hãnh diện vì mình thuộc nòi gà trống Gaulois. Thảo nào mà ngày xưa vào thời Cách mạng 1789, người ta đã vẽ hình con gà trống lên quốc kỳ của mình. Thảo nào mà ngày nay trong những trận đá banh quốc tế, các cầu thủ Pháp thường thả một chú gà trống vào trong sân để cầu may. Thảo nào mà mấy cố tây, mặc dù đã tu hành, nhưng vẫn mang nặng đầu óc dân tộc và luôn hướng về đất mẹ của mình, đã đặt chú gà trống ở đỉnh cao cây thánh giá trên ngọn tháp nhà thờ chính tòa thành phố Đalạt. Vì thế, ngôi nhà thờ này vốn được bàn dân thiên hạ gọi là nhà thờ Con Gà.
Còn người Việt Nam chúng ta, chính gốc Giao chỉ, thì lại hãnh diện vì mình là con rồng cháu tiên. Niềm tự hào này bắt nguồn từ một truyền thuyết như sau :
Lộc tục, con vua Đế minh, lên ngôi vua và lấy hiệu là Kinh dương vương. Kinh dương vương lấy con gái của Động đình quân là Long nữ, sinh ra Sùng lãm. Sùng lãm nối ngôi Kinh dương vương, xưng hiệu là Lạc long quân.
Lạc long quân lấy Âu cơ, đẻ ra một cái bọc chứa một trăm quả trứng, nở ra một trăm người con. Có sách thì ghi một trăm người con này bao gồm một nửa là con giai, còn một nửa là con gái, cũng có sách lại chép tất cả đều là đực rựa.
Ngày kia, Lạc long quân nói với Âu cơ :
- Ta là dòng dõi Long quân, tức là vua rồng. Còn khanh là dòng dõi thần tiên. Cả hai ăn ở lâu với nhau e rằng không ổn. Nay đã được một trăm đứa con, khanh hãy đưa năm mươi đứa lên núi, còn trẫm sẽ dẫn năm mươi đứa xuống biển.
Từ truyền thuyến này mà người Việt Nam chúng ta thường vốn tự hào vì mình có “long phụ tiên mẫu”, cha rồng mẹ tiên. Hay mình thuộc về dòng “tiên long”, thuộc về giống tiên rồng.
Và như thế, đã là người Việt Nam, sinh ra và lớn lên trên quê hương này, ai mà chẳng lấy làm vinh dự về cội nguồn ấy, và ai mà chẳng thích mơ…làm rồng.
Rồng là một con vật được mọi người yêu quí.
Trong khi đó, dưới chế độ quân chủ, thì nhà vua là người “ngon lành” nhất trong cả và đất nước. Chính vì vậy, hình ảnh con rồng vốn thường được dùng làm biểu tượng cho nhà vua, cũng như tất cả những gì thuộc về nhà vua…đều được gắn nhãn hiệu chữ “long” lên đầu.
Trước hết về hình dong bên ngoài của nhà vua, chúng ta ghi nhận : long thể nghĩa là thân thể của nhà vua. Vì thế mỗi khi nhà vua cảm cúm, nhức đầu sổ mũi và…hắt xì, người ta liền bảo rằng :
- Chết chửa, long thể lại bất an rồi.
Rồi long nhan nghĩa là khuôn mặt nhà vua. Không hiểu long tu có phải là râu của nhà vua, hay chỉ là một giống lan rừng ?
Tiếp đến là những đồ vật lỉnh kỉnh bên cạnh nhà vua. Thôi thì đủ thứ : long sàng là giường cho nhà vua nằm, long bào là áo cho vua mặc, long án là bàn cho vua viết, long xa là xe cho vua đi và long châu là thuyền cho vua ngự…
Chẳng hiểu còn bao nhiêu thứ “long” nữa thì gã xin khất vào một dịp khác sẽ kê đơn hoàn tán sau, chứ bây giờ mà phải kể tất tật ra thì e rằng bản thân gã sẽ phải…long đong lắm lắm.
Có lẽ cũng vì phẩm chất cao quí này mà ngày xưa những chiếc kiệu của các xứ đạo ngoài Bắc đều được sơn son thếp vàng và hai đòn khiêng đều mang hình con rồng, điều đó nói lên rằng cha ông chúng ta muốn dành cho Thiên Chúa, cho Đức Mẹ hay cho các thánh vinh dự số một.
Âu cũng là một cách “hội nhập văn hóa” hết xảy của các bậc tiền bối. Xin “khẩu phục tâm phục”.
Từ những điều vừa trình bày, thì nhà vua hẳn là người mơ làm rồng nhiều nhất. Tuy nhiên, giấc mơ này không phải chỉ là độc quyền dành cho nhà vua, bởi vì dân gian cũng muốn xí phần và ăn có, hay nói một cách nghiêm túc hơn, cũng muốn chia sẻ tí đỉnh giấc mơ này, nghĩa là cũng muốn được làm rồng, được gặp rồng, hay ít nữa là được giống rồng…
Trước hết là kẻ sĩ trong xã hội ngày xưa.
Đây là giai cấp học rộng biết nhiều, luôn vâng theo những lời dạy bảo của Khổng tử : khi thì ở ẩn để mà tồn tâm dưỡng tánh, khi thì nhập thế để mà hành động, khi thì xuất thế để mà về hưu.
Chính vì vậy, khi thời cơ thuận lợi đến, kẻ sĩ tự mơ thấy mình chính là rồng gặp được mây, nên tha hồ mà vùng vẫy để phục vụ xã hội. Chả thế mà Nguyễn công Trứ đã từng viết :
- Rồng mây khi gặp hội ưa duyên,
Đem tất cả sở tồn làm sở dụng.
Hay trong truyện “Phan trần” cũng có câu :
- Bây giờ cha tuổi tác này,
Mong con gặp hội rồng mây kịp người.
Ăn theo với kẻ sĩ chính hiệu con nai vàng là các cụ đồ.
Giấc mơ của các cụ đồ thì khiêm tốn hơn, chỉ mong sao cho nét bút của mình được lả lướt, được mát mắt thiên hạ để mọi người ưa thích, hầu kiếm tí tiền còm khi ngồi viết câu đối vào mỗi dịp tết đến, như Vũ đình Liên đã mô tả trong bài “ông đồ già” :
- Mỗi năm hoa đào nở,
Lại thấy ông đồ già,
Bày mực tàu giấy đỏ,
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết,
Tâm tắc ngợi khen tài,
Hoa tay thảo những nét,
Như phượng múa rồng bay…
Ngoài ra, những kẻ tài giỏi, giàu sang hay quyền thế cũng thích mơ được làm rồng, hay tự đồng hóa mình với…rồng.
Chẳng hạn như một anh chồng tài giỏi và ranh mãnh, chẳng may vớ phải một cô vợ dốt đặc cán mai làu táu. Khi “phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng” đã hết và tuần trăng mật cũng đã tan, bước vào đời thường, lúc phải đối mặt với cái ngây ngô ngốc nghếch của vợ, hẳn anh ta đã phải quát tháo :
- Ngu chi ngu lạ, ngu vừa vừa thôi chứ, để cho con người ta còn ngu nữa với.
Và nếu biết ca vọng cổ, anh sẽ quai mồm ra mà hét :
- Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu bực mình.
Còn nếu như kẻ có tí quyền hay tí chức mà rộng tay ban phát ơn huệ hay đích thân thăm viếng một kẻ khố rách áo ôm, thì lúc bấy giờ chẳng khác gì “rồng đến nhà tôm” vậy.
Hồi trước năm 1975, cũng khối kẻ thích mơ làm rồng.
Nếu gã nhớ không lầm thì hãng hàng không Việt Nam lúc bấy giờ cũng đã lấy hình con rồng làm biểu tượng cho mình, chắc hẳn quí vị đứng đầu hãng này mong muốn cho máy bay của mình bay như rồng. Vì thế, những tên nhà báo nham nhở liền gán cho hãng này cái tên không mấy đẹp đẽ, đó là “E rồng lộn”.
Và hình như huy hiệu của ông Nguyễn văn Thiệu ngày nào cũng có vẽ hình con rồng. Chắc hẳn là ông tổng thống này khoái mơ được làm rồng, thậm chí biết đâu còn khoái mơ được làm một ông vua. Chả thế mà dinh Độc lập, bây giờ gọi là dinh Thống nhất, nơi ông ăn ở và làm việc, vốn được cánh báo chí gọi đùa là…”phủ đầu rồng”.
Mình mơ làm rồng đã đành, mà hơn thế nữa, còn muốn cho những người mình yêu, mình thương cũng sẽ trở thành rồng.
Sở dĩ như vậy là vì “yêu nên tốt, ghét nên xấu”. Khi đã “chịu đèn” mí nhau rồi, thì củ ấu cũng tròn, trái bồ hòn cũng ngọt và một trăm chỗ lệch cũng được kê cho bằng.
Chính vì thế, cô vợ dù có xấu đến đâu chăng nữa, thì anh chồng cũng vẫn cứ hít hà khen lấy khen để :
- Lỗ mũi thì tám gánh lông,
Chồng thương chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng thương chồng bảo ngáy cho vui nhà,
Đi chợ mất tám tiền quà,
Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm…
Lông mũi nàng mà anh chồng cứ mơ tưởng là râu rồng, thì quả là tuyệt vời và hết ý.
Chỉ khi nào không còn thương, hay là thương không nổi nữa, thì anh ta bèn quay phắt 180 độ như thiên hạ vốn diễn tả :
- Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
Còn chị vợ khác, khi thấy anh chồng của mình yếu kém về nghệ thuật nói dối, đã ăn vụng mà lại không chịu chùi mép cho sạch, thành thử chẳng dấu được ai, thì cũng đã sánh ví anh chồng…yêu quí ấy như “rồng nằm bể cạn” :
- Rồng nằm bể cạn phơi râu,
Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi.
Hầu như ở mọi nơi và trong mọi lúc, rồng đều được mặc lấy những đặc tính tốt đẹp, chỉ có một vài trường hợp là rồng đã gây nên những thảm họa cho cuộc sống. Rất may, trong những trường hợp này, thì không phải là rồng thứ thiệc, mà chỉ là một loại rồng dổm mà thôi.
Chẳng hạn như : rồng hút nước, rồng rê…đây là một hiện tượng thiên nhiên, tạo nên những cơn lốc xoáy, hút nước lên trời hay giật sập nhà cửa dưới đất của một vùng rộng lớn.
Còn khi ngồi vào bàn tiệc, mà một anh chàng phàm ăn tục uống, thuộc vào hàng “lấy cái bụng làm chúa”, chẳng thèm để ý chi tới những người chung quanh, cứ gục đầu xuống như muông chim, thoải mái húp canh chùn chụt, chắc hẳn sẽ được thiên hạ kê ngay tủ đứng vào miệng :
- Ăn uống chi mà cứ như rồng cuốn…không chừng nuốt phăng cả bát đĩa và bàn ghế.
Qua những điều được bàn rộng tán dài, chúng ta thấy dân Việt Nam rất khoái rồng. Không phải chỉ các cụ ngày xưa mới thích mơ làm rồng, mà hơn thế nữa, ngày hôm nay từ quan cho chí dân, từ ông nhà nước cho đến anh nông dân, tất cả chúng ta không phải chỉ mơ làm rồng mà còn cố gắng biến giấc mơ này trở thành sự thật. Nghĩa là đất nước chúng ta phải trở thành một con rồng trong lãnh vực kinh tế, không đại long thì chí ít cũng phải tiểu long, không rồng lớn thì chí ít cũng phải rồng nhỏ, không toàn cầu thì chí ít cũng phải trong vùng Đông nam á.
Người Việt Nam chúng ta về chỉ số thông minh không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Cộng thêm vào đó là đức tính cần cù siêng năng. Đất nước lại nhiều tài nguyên. Đó là những điều kiện thuận lợi để hóa rồng.
Cách đây chừng bốn mươi năm, nếu gã không lầm, thì Thái lan, Malaysia, Indonesia, ngay cả Singapore và Đại hàn cũng chả là cái thá gì đối với Việt Nam.
Mức thu nhập bình quân đầu người của dân ta cũng đâu quá tệ so với họ. Lúc bấy giờ Việt Nam mình chỉ kiêng nể mỗi một anh chàng Nhật bản mà thôi.
Nhưng rồi chiến tranh leo thang, suốt hai mươi năm dân ta lo bịch nhau, thì họ đã đặt được nền tảng vững chắc cho sự phát triển. Tiếp theo là hai mươi năm dân ta loay hoay mò mẫm tìm cho ra một đường lối kinh tế, thì họ đã bước được những bước tiến khổng lồ. Thành thử cho đến bây giờ dân ta vẫn còn là một dân nghèo…rớt mùng tơi. Trong khi đó, họ đã vươn mình trở thành những con rồng kinh tế trong vùng.
Chính vì thế, dân ta cũng muốn noi gương bắt chước họ, vươn mình trở thành rồng. Thế nhưng việc hóa rồng không phải là một việc dễ dàng và chóng vánh một sớm một chiều. Trái lại, đó là một việc đòi hỏi nhiều cố gắng của tất cả trong mọi lãnh vực qua nhiều tháng nhiều năm. Nhưng ưu tiên phải là lãnh vực con người.
Thực vậy, nếu cán bộ còn tham nhũng và hối lộ, ăn gian và ăn cắp, nếu học sinh còn quay và cóp, nếu thiên hạ còn bán bằng cấp giả, nếu người sản xuất còn tung ra thị trường những mặt hàng dổm thiếu chất lượng, nếu những người buôn bán còn thiếu thành thật trong việc cân đo đong đếm, nếu bộ giáo dục còn chưa có được một chương trình đào tạo hợp tình và hợp lý…thì không hiểu đến đời thuở nào đất nước này mới hóa rồng được hay mãi mãi chỉ là một loài...bò sát.
Vì thế, để nền kinh tế Việt Nam được trở thành một con rồng trong khu vực, thì con người Việt Nam phải hóa rồng trước đã, nghĩa là phải mặc lấy những phẩm chất cao quí của rồng.
Bàn về chuyện “chính chị chính em”, kinh bang tế thế sao mà thấy nhức cái đầu quá, gã xin nói đến chuyện con nít.
Phải thành thực mà công nhận rằng : trẻ nhỏ ngày nay có rất nhiều đồ chơi và trò chơi. Có những em đã dành khá nhiều thời giờ, thay vì ngồi học bài và làm bài, thì lại ngồi trước màn hình với những trò chơi điện tử. Bấm loạn cào cào. Kéo lên kéo xuống như điên. Mà phần lớn lại những trò chơi này lại nghiêng về bạo lực : nào mìn, nào bom, nào súng, nào đạn…nào bắn, nào đấm, nào đá…Và gã bỗng thấy thương cho tuổi thơ bây giờ.
Không như ngày xưa, lúc gã còn nhỏ. Hồi đó chỉ toàn là những trò chơi dân gian hay tự biên tự diễn. Những trò chơi mang nặng tính cách nhân bản và đẹp như một bài thơ, vì đôi khi có cả vần cả điệu.
Chẳng hạn như chơi chuyền :
- Đôi tôi, đôi chị, đôi cành bị, đôi cành hoa.
Đôi lên tư, đôi ông sư, đôi bà vãi…
Chẳng hạn như chơi pháo :
- Pháo kêu vang, cả làng chịu chưa ?
Chẳng hạn như chơi ô quan :
- Hết quan, tàn dân, thu quân, bán họ.
Phe con gái kẹp tóc thì chơi chuyền, chơi trải gianh, chơi ô quan, chơi nhảy giây, nhảy cò cò, chơi chồng nụ…Phe con trai húi cua thì chơi khăng, chơi đáo, chơi pháo, chơi bi, chơi quay, chơi diều…
Tuy thế nhưng lại rất phong phú, bởi vì mùa nào thì chơi trò nấy. Và có những lần gã đã trở thành…rồng.
Thực vậy, vào những đêm trăng sáng, bọn nhóc tì xếp hàng trên một khoảng sân rộng. Đứa sau ôm eo đứa trước kết thành rồng, còn một đứa được chỉ định làm ông thày thuốc.
Bắt đầu trò chơi, xấp nhỏ rồng rắn tung tăng nhảy quanh sân, vừa đi vừa đọc lớn :
- Rồng rồng rắn rắn,
Lên mây có cây lúc lắc,
Hỏi ông thày thuốc,
Có nhà hay không ?
Rồi dừng lại trước mặt ông thày thuốc và ông thày thuốc liền hỏi :
-Rồng rắn đi đâu ?
Rồng rắn trả lời :
-Đi lấy thuốc cho con.
Tiếp đến là cuộc đối chất giữa ông thày thuốc và rồng rắn :
- Con lên mấy ? - Con lên một.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên hai.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên ba.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên bốn.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên năm.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên sáu.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên bảy.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên tám.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên chín.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên mười.
- Thuốc ngon vậy.
- Xin khúc đầu. - Những xương cùng xẩu.
- Xin khúc giữa. - Những máu cùng me.
- Xin khúc đuôi. - Tha hồ mà đuổi.
Sau đó, ông thày thuốc phải đuổi thế nào để tóm được cái đuôi con rồng. Còn con rồng thì phải hết sức ngăn chặn, để ông thày thuốc không tóm được cái đuôi của mình.
Khi nào ông thày thuốc tóm được cái đuôi, thì tên nhóc tì làm đuôi sẽ bị giáng chức xuống làm ông thày thuốc. Còn ông thày thuốc thì được nhập vào con rồng, có nghĩa là là ông thày thuốc đã hóa rồng và đã làm rồng.
Cứ thế, cứ thế…trò chơi lại được bắt đầu với tiếng trẻ thơ reo vang :
- Rồng rồng rắn rắn,
Lên mây, có cây lúc lắc,
Hỏi ông thày thuốc,
Có nhà hay không ?
Chắc hẳn trên cao ông trăng cũng phải nhoẻn miệng cười, vì có một chú nhóc lại sắp trở thành rồng đến nơi