Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

Chương IV Thánh Thể là Giao ước mới

26. Giao ước là gì?

Theo nghĩa Kinh Thánh thì Giao ước là một thỏa ước giữa hai bên, được thiết lập và đóng ấn bằng một nghi lễ công khai và long trọng.

Trong giao ước, mỗi bên được hưởng một số quyền lợi và phải thi hành một số bổn phận. Chẳng hạn khi mua một căn nhà, sau khi hai bên đạt được thỏa thuận thì bổn phạn của người mua là phải trả tiền và quyền lợi được hưởng là căn nhà.

27. Người ta đóng ấn Giao ước thế nào?

Theo phong tục của các dân sống tại miền đất Thánh xưa, người ta thường đóng ân giao ước bằng cách sát tế một con vật, rồi phân thây làm hai phần và đặt dưới đất. Sau đó đại diện hai bên lần lượt đi ngang qua giữa hai phần con vật bị phân đôi, ngụ ý quyết tâm thi hành giao ước và sẵn sàng chịu cùng số phận như con vật bị giết nếu vi phạm thỏa ước.

Một hình thức khác để đóng ấn Giao ước là người ta dùng máu con vật bị sát tế rẩy lên hai bên thiết lập máu giao ước, nghi thức đố ám chỉ hiệu quả giao ước là làm cho hai trở nên “họ hàng cùng một huyết thống” và chia sẻ với nhau “cùng một linh hồn” tức “cùng một sự sống”, vì theo quan niệm của Do Thái, máu là nơi cư ngụ của linh hồn và linh hồn là chính sự sống của sinh vật.

28. Trong nhiệm cục cứu rỗi, Thiên Chúa đã thiết lập những giao ước nào với con người?

Trong lichj sử ơn cứu rỗi, Thiên Chúa đã nhiều lần thiết lập giao ước với loài người, nhưng hai giao ước thường được nhắc tới trong Kinh Thánh là Giao ước mới và Giao ước cũ.

29. Giao ước cũ là gi?

Giao ước cũ là giao ước được thiết lập giữa Thiên Chúa với dân riêng Ngài là dân Israel và được đóng ấn bằng máu con vật bị sát tế.

30. Giao ước cũ gồm những đặc điểm nào?

Giao ước cũ gồm những đặc điểm sau đây:

Được ký kết bằng máu con vật bị sát tế, nhờ đó Thiên Chúa và dân Ngài được liên kết với nhau trong tình huyết nhục thiêng liêng.

Giao ước được ký kết với dòng dõi tư tế.

Giao ước được ký kết với dân riêng, nhưng có hiệu quả phổ quát, còn dân riêng Ngài chỉ là đại diện và là trung gian phổ quát giữa Thiên Chúa với nhân loại mà thôi.

Giao ước là một bữa tiệc, trong đó thực khách của Thiên Chúa đã được đồng bàn với Ngài, nghĩa là Thiên Chúa mời gọi Israel tham dự vào tình bằng hữu nghĩa thiết với Ngài và chia sẻ mọi thiện hảo với Ngài.

31. Giao ước mới là gì?

Giao ước mới là giao ước được thiết lập giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại và được đóng ấn bằng máu Đức Kitô con một yêu dấu của Thiên Chúa.

32. Tương quan giữa giao ước mới và giao ước cũ thế nào?

Giao ước cũ là hình bóng của giao ước mới. Vì thế, Giao ước mới hoàn tất những gì được tiên báo qua giao ước cũ, và do đó Giao ước mới đã chấm dứt và thay thế cho Giao ước cũ.

33. Thánh Thể là giao ước mới thế nào?

Tại Bữa Tiệc Ly Chúa Giêsu đã thực hiện những gì Người sắp thi hành thực sự trên thập giá, đó là hiến thân làm Con Chiên Vượt Qua chịu sát tế làm lễ hy sinh đền tội cho nhân loại, và máu đổ ra để thiết lập và đóng ấn giao ước giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại, nhờ đó nhân loại được hiệp nhất với Thiên Chúa trong cùng một huyết nhục như những người cùng một gia đình, chung nhau cùng một dòng máu.

Giao ước này được gọi là giao ước mới vì thay thế cho giao ước cũ như lời Chúa Giêsu phán: “Chén này là Giao ước mới trong Máu Ta đổ ra vì các Ngươi” (Lc 22,30)

34. Thánh Thể là giao ước mới đòi ta những thái độ nào?

Ngoài giá trị siêu vượt và hiệu quả lớn lao của Giao ước mới, Giao ước này còn gồm hai đặc điểm khác biệt với giao ước cũ, đó là giao ước phổ quát, nghĩa là được ký kết với toàn thể nhân loại và dựa trên mối tương quan tình yêu. Vì thế, giao ước mới đòi hỏi ta tinh thần liên đới đại đồng, và một cuộc sống dựa trên tình yêu.

35. Giao ước mới đòi hỏi ta tinh thần liên đới đại đồng như thế nào?

Giao ước mới là giao ước phổ quát, nghĩa là bao gồm hết mọi người có ảnh hưởng và công hiệu đối với toàn thể nhân loại. Vì thế:

Giao ước mới đòi hỏi ta tinh thần cởi mở chấp nhận hết mọi người như những anh chị em ruột thịt không phân biệt tuổi tác, địa vị, xã hội, văn hóa, chủng tộc hoặc tình trạng của cuộc sống.

Ngoài ra giao ước mới cũng đòi hỏi ta không được có thái độ thờ ơ hoặc khinh chê đối với bất cứ ai, vì nhờ giao ước mới này tất cả được trở thành con cái của cùng một cha chung trên trời và anh chị em với nhau trong tình huyết nhục thiêng liêng. Do đó phải chia sẻ và liên đới với mọi người trong mọi cảnh ngộ.

36. Giao ước mới đòi hỏi ta cuộc sống dựa trên tình yêu nào?

Vào thời Giê-rê-mi-a, tinh thần tôn giáo của Israel đang đà xuống dốc cách thảm khốc. Người ta thực thi tôn giáo với một tinh phần pháp lý vụ lợi, nghĩa là có ân huệ Chúa ban cho họ là một thứ công nợ. Ngài phải trả cho họ những việc họ thực hiện. Giê-rê-mi-a cực lực đả kích tinh thần ấy, và tiên báo Thiên Chúa sẽ thiết lập với dân Ngài một giao ước mới, không dựa trên thỏa ước pháp lý lề luật ràng buộc. Nhưng dựa trên mối tương quan tình yêu gắn yêu Thiên Chúa gắn bó với dân Ngài.

Thánh Thể là giao ước mới cũng phải hiểu theo ý nghĩa đó. Vì thế, Thánh Thể đòi hỏi ta cuộc sống gắn bó với Thiên Chúa và dấn thân cho Ngài hoàn toàn dựa trên mối tương quan tình yêu, chứ không dựa trên pháp lý hay hình thức


Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

bai hat ua thich


Hình ảnh lễ truyền thống sinh viên 2009 tai thạch Bích

Sự khác biệt giữa phép rửa của ông Gioan vả phép rửa của Chúa Giêsu

Sự khác biệt giữa hai phép rửa là:
- Phép rửa của ông Gioan: Ông làm phép rửa để tỏ lòng sám hối (Dùng nước) Ông là người đã làm phép rửa để muôn dân đón nhận Chúa, và ông cũng là người đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu.
- Phép rửa của Chúa Giêsu: Phép rửa của Chúa Giêsu làm cho người lãnh nhận được sống. Người chịu phép rửa cũng phải chết đi với tội lỗi, cùng chịu mai táng với Chúa Giêsu rồi mới được sống lại. Khi chịu phép rửa này, ta được dìm mình trong Thánh Thần, được rửa nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa. Được thánh hóa nhờ nước và Thánh Thần, được trở nên con cái Thiên Chúa và Giáo hội

Sử dụng Kinh Thánh như thế nào?

Sử dụng Kinh Thánh như thế nào?
- Tôi rất muốn đọc Kinh Thánh nhưng lại không biết phải bắt đầu như thế nào. Trước một quyển Kinh Thánh, tôi cũng không biết phải mở ra như thế nào; nhưng một khi sách Kinh Thánh đã được mở ra, tôi không biết phải làm sao nữa. Nếu có người nào nói với tôi là kiếm đọc câu này ở đoạn nọ trong sách kia của Kinh Thánh, tôi cảm thấy mình như bị lạc hướng như Mô-sê bị lạc trong trung tâm thành phố của Nữu Ước!
- Hãy thử nói rằng, Mô-sê trong thành phố Nữu ước muốn thăm một người bạn ở số nhà 777 đường Havard, phòng số 9. Ngài Mô-sê của chúng ta phải làm gì? Trước hết Mô-sê phải kiếm đường Havard, và có thể phải xem bản đồ của thành phố. Sau đó, Mô-sê sẽ đi tới số nhà 777, và khi đã vào trong căn nhà này, Mô sê sẽ đi kiếm phòng số 9.
Để tìm thấy trong Kinh Thánh, bạn không có gì phải rắc rối hơn là phải làm như thế. Trước tiên hãy tìm kiếm sách mà mình muốn tìm, sau khi đã thăm dò trong bảng mục lục. Sau đó, hãy tìm chương sách mà bạn phải đọc; và khi đã tìm thấy chương muốn đọc rồi, bạn hãy tìm câu mà mình cần.
Chính lúc bạn luyện sắt là lúc bạn trở nên người thợ rèn ! Sau vài tuần lễ, Mô sê đi lại dễ dàng trong trung tâm thành phố của Nữu ước. Tôi cam kết với bạn, với một sự thực hành tối thiểu và kiên nhẫn, bạn sẽ làm quen rất dễ dàng với các sách của Kinh Thánh và tìm kiếm cách dễ dàng các sách, các đoạn và các câu trong sách đó. Và cuối cùng, bạn sẽ nhớ nằm lòng những sách, đoạn và câu quan trọng mà người ta thường nói tới.
- Xin cho tôi một lời khuyên về sách Kinh Thánh nào mà tôi cần để sử dụng?
Tất cả các sách Kinh Thánh được Giáo Hội Công Giáo y chuẩn đều có thể dùng được. Tôi cũng khuyên bạn nên có một sách Kinh Thánh toàn bộ, nghĩa là có đầy đủ các sách của Cựu Ước và Tân Ước. Nếu có thể được, hãy kiếm sách có chú giải phía dưới mỗi trang và có những số tham chiếu ở hai bên lề sách. Đừng quá sợ hãi. Bạn sẽ làm quen dễ dàng với Sách Thánh. Hiện thời, trong chương trình này, chúng tôi dùng sách Kinh Thánh do nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh dịch.
- Tôi thấy có những lời chú giải phía dưới trang sách. Khi nào thì tôi có thể đọc những lời chú giải này?
- Trong khi bạn đọc một bản văn trong Kinh Thánh, thì đây, bỗng nhiên xuất hiện một chữ nho nhỏ bên một chữ trong câu bạn đang đọc. Đấy chính là nhà xuất bản muốn bạn gián đoạn giây lát bài đọc Kinh Thánh của bạn để tới xem, phần dưới trang sách, một câu giải thích mà nhà xuất bản muốn cung cấp thêm cho bạn. Hãy thực tập đôi mắt của bạn để tìm thấy những chữ nhỏ này: khi thấy chữ “a”, bạn hãy tìm lời chú giải a) ; khi thấy chữ “b”, hãy đi tới lời chú giải b) ; và cứ như thế tiếp tục.
- Và tất cả những tham chiếu bền lề sách, đó là cái gì vậy? Những tham chiếu này còn có những ký hiệu như //,… (xem thí dụ hình ở phía dưới)
- Đó là những tham chiếu những câu kinh thánh có nói tới như câu bạn đang đọc hoặc giống như thế với ký hiệu //. Điều này giúp cho bạn rất nhiều khi muốn tìm kiếm những đoạn văn cũng nói tới như điều bạn đang đọc.
- Có điều gì phải biết nữa không trong khi đọc Kinh Thánh?
- Đương nhiên là có, những lời giới thiệu quyển sách ở phần đầu của mỗi sách hoặc trước những nhóm sách Kinh Thánh. Phải đọc những lời giới thiệu này. Trong cuộc đối thoại tới, sẽ giúp cho bạn hiểu rõ hơn. Nên biết rằng, trong sách Kinh Thánh Tân Ước do nhóm Phụng Vụ các Giờ Kinh dịch có bảng phụ trương Niên Biểu Tân Ước rất là hữu ích để có cái nhìn chung của lịch sử ơn cứu chuộc. Bạn cũng hãy nhìn vào các bản đồ ở cuối sách Kinh Thánhvà hãy cố gắng làm quen với các địa danh Kinh Thánh và các nước có liên quan.
- Như thế thì có nhiều thứ để học hỏi lắm!
- Đúng thế, nhưng hãy làm những việc đó một cách thoải mái, đừng làm cho vấn đề trở nên căng thẳng. Sau bài đối thoại 1 này, tôi đề nghị bạn hãy đi qua quyển sách Kinh Thánh như khách du lịch ! Bạn hãy là người hiếu kỳ. Những chi tiết nhỏ thì hãy để sau sẽ tính. Bỏ qua những giai đoạn hay trở lại xem những gì đã đọc, điều đó không quan trọng. Điều cần, ngày hôm sau, bạn cảm thấy ít xa lạ hơn trong thế giới mới này.
Hình Thí Dụ Một Trang Sách Kinh Thánh:
1 Luca = Sách Luca
2 23,46 = trang này kết thúc bằng chương 23 câu 46 (số nằm ở bên tay mặt của trang sách). Nếu số tương tự nằm ở bên góc tay trái của trang sách thì nghĩa là trang này bắt đầu bằng chương xx câu xx.
3 //Mt 27,45-50 nghĩa là đoạn này cũng có ở sách Mátthêu chương 27 từ câu 45 tới 50
4 q) và r) là chú thích hay tham chiếu của câu Thánh Kinh, nên đọc để hiểu thêm.

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

Các vĩ nhân trong Kinh Thánh

Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ tóm tắt tên những nhân vật nổi tiếng với lại những chuyện gắn liền với người đó. Chứ không kể chuyện. Có địa chỉ trong kinh thánh để ta tự đọc và tìm hiểu thêm.
1. Adam-eva: Tổ tông của loài người St 1;2
2. Cain: Kẻ sát nhân đầu tiên. St 4
3. Noe: Trận lụt. St 6-10
4. Abraham: Người Của Niềm Tin (Stt11,27-25,11; Rm 4,1-tt)
5. Sara: Mẹ của Israel St
6. Isaac: Nạn Nhân (St 21-28)
7. Rêbêca: Vợ của Isaac
8. Giacóp: Người đánh vật với Thiên Chúa (St 25,19-50,13)
9. Rakhen và Lêa ( St 29-35)
10. Giuse: Đứa Con Cưng ( St 29-50)
11. Môsê: Người Giải Phóng ( Xh,Lv,Ds,Dnl)
12. Giôsuê: Người nối nghiệp
13. Rakháp: Kiều nữ
14. Đê-rô-ba: Quan án của Israel
15. Ghê-đê-on: Chiến tướng của niềm tin
16. Sam Son: Người có sức mạnh khủng khiếp
17. Rut: Người ngoại nhưng ngay thật
18. Anna: Mẹ của Samuel
19. Samuel: Quan án cuối cùng của Israel
20. Saun (Sao-lê): Ông vua thê thảm
21. David: Vị vua được chọn
22. Mikan, Abigai và Batsave: Vợ của vua David
23. Nathan: Vị tiên tri của cung đình
24. Salomon: Vị vua khôn ngoan
25. Eelia: Giavê là Chúa tôi
26. Isabel: Người đàn bà xấu xa
27. Êlisa: Người làm điều kỳ diệu
28. Amot: Sứ giả của công bằng xã hội
29. Ôsê: Sấm ngôn về tình yêu của Thiên Chúa
30. Isaia: Tiên tri của Thiên Chúa thiêng liêng
31. Mikha. Tiên tri của Bêlem
32. Giê-rê-mi-a: Tiên tri của giao ước mới
33. Ê-dê-ki-en: Vị tiên tri trong sự sống mới
34. Isaia Đệ nhị và đệ tam
35. Etra: Nhà cải cách
36. Gioen: Vị tiên tri của khải huyền
37. Giona: Vị tiên tri ở trong bụng cá 3 ngày
38. Giop: Người chất vấn Thiên Chúa
39. Giuđa Macabe: Búa của Thiên Chúa
40. Daniel: Người trong hang sư tử
41. Ette: Nữ hoàng can đảm
42. Giuditha: Vị nữ anh hùng
43. Đức Maria: Người sinh ra Chúa
44. Giuse: Cha nuôi Chúa Cứu thế
45. Gioan Baotixita: Vị ngôn sứ đến dọn đường cho Đấng Cứu Thế
46. Phê-rô: Người được đặt làm đá tảng
47. Gioan: Người môn đệ Chúa yêu
48. Gia-cô-bê tiền: Tông đồ
49. An-rê: Anh của Phê-rô, người đánh cá
50. PHilipphê: Vị tông đồ của thực tiễn
51. Tooma: Tông đồ cứng lòng tin
52. Ba-tô-lô-mê-ô: Người Israel chân chính
53. Mat-thêu: Tông đồ thu thuế
54. Giacobe hậu: Tông đồ của Chúa
55. Simon: Tông đồ thuộc nhóm nhiệt thành
56. Giuđa Tadeo: Bổn mạng kẻ thất vọng
57. Giuđa Itcariot: Kẻ phản bội
58. Mathia: Tông đồ kế vị Giuda Itcariot
59. Maria Madalena: Người tội lỗi trở về
60. Matta và Maria: Người bạn của Chúa
61. Lazaro: Người được Chúa cho sống lại
62. Nicodemo: Vị thầy của Israel
63. Giuse Arimathe: Người xin liệm xác Chúa
64. Stephano: Vị tử đạo tiên khởi trong giáo hội
65. Philipphe: Vị phó tế
66. Phaolo: Tông đồ dân ngoại
67. Banaba: Người môn đệ can đảm
68. Macco: Người viết tin mừng
69. Luca: Y sư thiêng liêng
70 Timothe: Người lãnh đạo của Chúa
71. Tito: VỊ giám mục tiên khởi

Nếu tìm hiểu được hết các nhân vật này thì có thể có cái nhìn tổng quát về Kinh Thánh. Gần như nắm được hết các câu chuyện Kinh Thánh.

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2010

Chuyện phiếm của Gã Siêu

INTERNET


Cách đây mười mấy năm, gã tậu được một chiếc máy vi tính và đã được coi là hơi bị văn minh. Vì không phải là dân chuyên nghiệp, cho nên đối với gã, chiếc máy vi tính được dùng thay cho chiếc máy chữ cổ lỗ sĩ. Ngồi đánh văn bản không còn đau buốt những đầu ngón tay. Rồi lại còn có thể chỉnh sửa theo ý muốn của mình. Bỏ chỗ này, thêm chỗ kia, thật là trên cả tuyệt vời.

Sau đó, chiếc máy vi tính được nối mạng và gã có thể ngồi nhà mà liên lạc với bè bạn khắp bốn phương thiên hạ. Đây quả thực là một phương tiện phù hợp với chủ trương của gã, đó là ngon, bổ rẻ…

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” thì internet là mạng thông tin máy tính toàn cầu, cho phép bất kỳ máy tính nào nối với mạng đều có khả năng thông tin với các máy tính trên mạng thông qua một địa chỉ chính xác. Mạng được xây dựng trên cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp các dịch vụ công cộng và dịch vụ cá nhân.

Internet được thai nghén và được hình thành tại Hoa Kỳ vào năm 1969. Thuở ban đầu chỉ là một mạng máy tính của bộ Quốc phòng, có tên là Arpanet, nhằm liên lạc thông tin giữa các trường đại học và các đơn vị quân đội. Rồi từ đó cho đến nay, internet không ngừng được hoàn chỉnh và được bàn dân thiên hạ, từ chú nhóc tì cho đến ông già đầu bạc, chiếu cố và sử dụng.

Riêng tại Việt Nam, dịch vụ internet được chính thức khai trương vào ngày 19 tháng 11 năm 1997. Tuy sinh sau đẻ muộn, nhưng internet tại Việt Nam vẫn liên tục phát triền và có mặt khắp các hang cùng ngõ hẻm của đất nước này.

Chắc hẳn không ai dám phủ nhận những lợi ích to lớn mà internet đã đem đến cho nhân loại.

Trước hết, đây là một phương tiện liên lạc thông tin thật mau chóng. Gã còn nhớ ngày xưa muốn viết và gửi một bài báo, thì phải tốn rất nhiều công sức. Đồng thời, phải trừ hao ít nữa là hai tháng.

Trước hết, phải ngồi vào bàn đánh máy, rồi mang ra bưu điện gửi. Thời gian bức thư được chuyển từ Việt Nam qua Thụy Sĩ là ba tuần hay một tháng. Sau đó, tòa soạn phải đánh máy lại, dàn trang, in ấn và phát hành cũng mất toi một tháng nữa. Còn bây giờ thì khỏe re. Viết xong chỉ cần nhấn nút. Và trong giây lát, bài viết đã có mặt tại tòa soạn. Nhân viên tòa soạn chỉ cần cắt dán và trình bày mà thôi.

Cũng vậy trong phạm vi liên lạc cá nhân. Viết và gửi một bức thư vừa vất vả, lại vừa hao tốn thời giờ và tiền bạc. Còn bây giờ gửi một cái “meo” với tài liệu đính kèm, vừa rẻ lại vừa mau. Chỉ hơi buồn cười một tí là viết không có dấu, nên phải đoán. Và trong một vài trường hợp đã đoán sai, đoán trật. Chẳng hạn hai chu “nghi ngoi”, co thể hiều là “nghỉ ngơi” hay “nghĩ ngợi” tùy theo mạch văn. Và còn những chữ độc địa hơn nhiều.

Tuy nhiên, một lợi ích khác không kém phần quan trọng, đó là internet đã cung cấp cho chúng ta một kho tài liệu thật đa dạng, thật phong phú, khả dĩ làm cho chúng ta mở rộng tầm nhìn và trau dồi thêm được vô vàn kiến thức. Internet được coi như là một cánh cửa mở rộng, để chúng ta đi vào thế giới. Với internet, chúng ta có thể giải trí, có thể du lịch, có thể học hỏi, có thể trao đồi kinh nghiệm…

Tuy nhiên, một đồng tiền có mặt sấp và mặt ngửa, mặt phải và mặt trái, internet cũng có hai mặt : mặt tốt và mặt xấu, mặt lợi và mặt hại.

Cái hại đầu tiên mà bản thân gã đã phải hứng chịu, đó là internet đã biến gã trở nên một tên ăn trộm, ăn cắp. Thực vậy, ngày xưa ngồi lọc cọc đánh máy, nhưng gã lại rất tự hào, bởi vì bài nào viết ra, thì chính xác là của gã, do gã đã đổ công sức của mình mà đầu tư cho bài viết ấy. Còn bây giờ, với số lượng thông tin ồ ạt, khiến gã tối tăm cả mặt mũi. Cứ việc liếc qua, thấy hay thì lưu vào kho tài liệu và khi cần, sẽ mang ra “chế biến” mà xài đỡ.

Thành thử, gã cứ vô tư mượn đỡ, hay vô tư xài chùa của thiên hạ, miết rồi trở thành một thói quen lúc nào cũng không hay. Thói quen này làm thui chột khả năng sáng tác. Đầu óc không suy nghĩ, không làm việc, thì cũng sẽ bị cùn dần và mòn dần đi với thời gian mà thôi.

Bây giờ, xin bàn tiếp mấy hiện tượng đang được bàn dân thiên hạ chú ý, nhưng đồng thời cũng mang lại những hậu quả tai hại cho bản thân cũng như cho gia đình, cho người già cũng như cho người trẻ.

Xin được nói ngay rằng gã không phải là một cư dân thường trú trên mạng, nên chỉ lượm lặt những gì báo chí đăng tải, hay bàn dân thiên hạ xì xèo mà thôi.

THỨ NHẤT LÀ…WEB ĐEN.

Đối với người phương Đông, chuyện tình dục là chuyện riêng tư, rất ít khi được bàn luận một cách công khai giữa thanh thiên bạch nhật với bàn dân thiên hạ. Đôi khi còn là điếu cấm ky.

Nhưng đối với người phương Tây thì lại khác, đây là một nhu cầu rất tự nhiên, như ăn và uống. Vì thế, họ thường có thái độ thông thoáng và cởi mở hơn. Cũng vì thái độ thông thoáng và cởi mở này, mà hằng ngày gã nhận được không biết bao nhiêu thư rác, trong đó đa số đều nói đến chuyện tình dục cũng như quảng cáo cho những loại thuốc, chẳng hạn như viagra…

Hơn thế nữa, làm sao có thể kể hết những trang web trên internet bàn về chuyện tình dục. Hằng hà sa số. Bất cứ nghĩ ra một chữ nào, gõ vào máy rồi thêm cái đuôi…”com”, rồi nhấn nút. Thế là trang web đó sẽ hiện ra.

Ở Việt Nam, người ta gọi những trang web chuyên về tình dục với những hình ảnh thuộc loại phim “con heo”, sỗ sàng, khích thích là những trang…web đen.

Nhiều nhà giàu trang bị may vi tính cho con cái ở phòng riêng. Thấy con suốt ngày cặm cụi học hành. Ai dè những cậu ấm va cô chiêu ấy suốt ngày vùi đầu vào những trò chơi, hay đi lang thang vào những trang web đen để sưu tầm hàng độc. Sao chép và truyền cho nhau, đề rồi cuối cùng việc học hành bị sa sút. Sống vật vờ như kẻ mất hồn và thiếu ngủ.

Không phải chỉ bọn trẻ mới la cà trên những trang web đen cho thỏa mãn óc tò mò và tính hiếu kỳ, mà ngay cả những người mang nặng tuổi đời cũng vẫn chịu khó chui vào đó để tìm lấy cho mình những cảm giác mạnh. Gã không nhớ rõ một tờ báo nào đó đã làm cuộc điều tra và cho biết kết quả không ít người đã…”nghiện” những trang web đen này.

Chiếc áo vấy bẩn, ta có thể giặt đi giặt lại một cách dễ dàng. Thế nhưng, một hình ảnh xấu, khi đã lọt vào trong tâm hồn, thì khó mà tẩy xóa cho được. Nó sẽ cắm dùi và chiếm lấy tâm hồn làm nơi cư trú, để rồi bất kỳ lúc nào nó cũng có thể hiện lên và nhảy múa trong đầu óc.

Kinh nghiệm cũng cho thấy : chơi dao có ngày đứt tay. Sống trong dịp tội mà không sai lỗi vấp phạm, thì đó là một phép lạ cả thể, mà chắc chắn Chúa sẽ chẳng bao giờ thực hiện cho chúng ta.Từ những hình ảnh nhảy múa trong đầu óc, đến những cám dỗ và từ những cám dỗ đến những hành động tội lỗi, tất cả chỉ là những đoạn đường ngắn mà thôi.

Ở Việt Nam, số thanh thiếu niên phạm vào những trọng tội, như cướp của, giết người, hãm hiếp…hình như mỗi ngày một gia tăng. Va khi được hỏi tại sao lại hành động như thế, nhiều em đã trả lời tỉnh bơ :

- Thấy trên phim ảnh người ta làm vậy, nên bắt chước mà làm theo.

THỨ HAI LÀ…CHÁT.

Chát là trò chuyện, trao đổi thông tin trên mạng giữa hai hay nhiều người bằng hình thức điện thư. Cái thế mạnh của chát là không ai biết được ai, nên dân chát cứ mặc sức tung hoành.

Họ thường dùng những “nickname” thật ấn tượng để cho bàn dân thiên hạ phải chú ý đến, chẳng hạn : quandui (quần đùi), emconcodon (em còn cô đơn), chiconaothoi (chỉ còn áo thôi), taychoisungsuc (tay chơi sung sức), natso (nát sọ), chemchamay (chém cha mày)…Những cái tên ấy vừa ít văn hóa, vừa kém thẩm mỹ, lại vừa thiếu giáo dục, nhưng vẫn được lôi lên mạng, khiến cho nhiều người phải giật mình và ngao ngán.

Vì không ai biết ai, nên họ tha hồ tán hươu tán vượn, với những lời lẽ sặc mùi máu me thô tục khi họ chửi bới lẫn nhau, hay ủy mị ướt át khi họ nói đến chuyện tình cảm và mời chào.

Tác giả Đinh Quý Anh, trong một bài viết trên báo “Công An Thành Phố”, đã kể lại những ghi nhận của mình như thế này :

Chiều 12 tháng 10, tôi vào phòng máy tính trên đường Phạm Viết Chánh, tại đây có trên 30 máy, đa số đã có người. Khách là những gương mặt còn non choẹt, đang say sưa chơi game và tán dóc.

Lấy lý do tìm bạn, tôi lướt một vòng quanh phòng. Ngoài những nickname khiêu chiến, khích bác lẫn nhau, nhiều tay chát còn thản nhiên trao đổi chuyện tình rất sành điệu, trong khi tuổi đời của họ vẫn còn quá trẻ.

Một cô bé 14, hay 15 tuổi là cùng, mang nickname “ghientrai” (ghiền trai) viết :

- Mình đã có một đời chồng, làm tình rất sõi.

Viết xong, cô bé cười ha hả vì đối phương đã bị đánh lừa. Tuy nhiên, bạn chát của cô bé cũng rất cao thủ khi nhắn lại :

- Với một người từng làm đàn ông từ lúc 15 tuồi, thì đó chỉ là chuyện nhỏ.

Chẳng biết “người đàn ông” kia bao nhiêu tuổi, hay chỉ là một cô bé còn thích ô mai, lấy nickname người lớn để đùa cợt.

Tôi hỏi một học sinh cấp ba ngồi bên phải :

- Tại sao em khoái chát ?

Chú nhóc cho biết :

- Vì thấy vui, tụi nó với mình chửi nhau thoải mái. Một vài người còn dạy mình cách “cưa” con gái…nên muốn thử.

- Em không thấy là vượt quá sức mình à ?

- Chẳng sao cả. Chát chỉ là trò ảo, mọi người đều dối gạt nhau, không riêng gì em. Chủ yếu là tìm cảm giác lạ.

Do tính chất ảo của chát, người ta tha hồ hoán đổi vị trí cho nhau : già biến thành trẻ, còn trẻ thì lại biến thành già. Con giai biến thành con gái, còn con gái thì lại biến thành con giai. Đờn ông biến thành đờn bà, còn đờn bà thì lại biến thành đờn ông.

Hơn thế nữa, người ta lại còn mặc sức thêm râu thêm ria, vẽ vời về địa vị, nghề nghiệp cũng như con người của mình, để lừa gạt đối phương.

Vừa mới làm quen trên mạng, chị L được người bạn trai mời đi hát karaoke. Tại đây, trong lúc người bạn trai mời chị uống bia, thì tên bạn hắn viện cớ vào toilet. Sau đó, người bạn trai lấy lý do ra ngoài để gọi điện thoại, rồi cả hai tên đều chuồn mất tăm, đề lại chị ngồi một mình, cùng với tờ hóa đơn trị giá 1,2 triệu đồng.

Có những ông chồng và những bà vợ, vì không được hạnh phúc, hay gặp phải những khó khăn và rạn nứt trong gia đình, nên đã chọn chát làm nơi trút bàu tâm sự. Họ say mê chát, bởi vì họ được thoải mái giãi bày những hoàn cảnh éo le của mình.

Hơn thế nữa, người tình ảo trên mạng lại chẳng bao giờ gây phiền toái và rắc rối cho họ. Trái lại, luôn “chiều” họ ở mọi nơi và trong mọi lúc. Cuối cùng họ lấy ảo làm thực và lấy thực làm ảo, để rồi cuối cùng gia đình họ chắc chắn sẽ đứng bên bờ vực thẳm của đổ vỡ.

Tệ hại hơn nữa, chát còn là nơi “mần ăn” của gái mãi dâm. Thực vậy, các chị em ta cũng đua nhau lên mạng để săn tìm khách làng chơi. Nếu đồng ý, thì sẽ cho ngắm “hàng” qua webcam, để dễ bề trả giá, biến chát trở thành một cái bẫy moi tiền của những “con nai vàng ngơ ngác”, hay của những kẻ ham của lạ và thích chơi trống bỏi.

Tóm lại, một số người đến với chát để học hỏi, để trao đổi kinh nghiệm, để chia sẻ những tâm tình chân thật, cũng như để kiếm tìm cho mình một chút tình cảm, vốn đã bị thiếu hụt nơi bản thân, hay trong cuộc sống gia đình.

Tuy nhiên, nhiều người khác đến với chát cốt để tán dóc, để chửi bới, đề dối gạt, để nói những chuyện tầm bậy tầm bạ. Họ đã vô tình biến một sân chơi vốn lành mạnh, dành cho những người bạn lâu ngày muốn gặp nhau để trao đồi thông tin, thành một đám xà bần hổ lốn, mang nhiều tính cách độc hại, hơn là đem lại những lợi ích thiết thực.

THỨ BA LÀ LỐC (BLOG)

Hiểu một cách đơn giản, lốc là một thứ nhật ký điện tử mà người khác cũng có thể tham dự. Chẳng hạn gã đưa ra một quan điểm và người khác cũng có thể gửi vào đó những ý nghĩ, những suy tư của mình.

Theo tac giả Kim Cúc của báo Gia Đình, thì trong thời gian gần đây, lốc nở rộ như một sân chơi cho nhiều người, đặc biệt là giới trẻ.

Với lốc, họ thể hiện được những cá tính của mình một cách cởi mở và tự nhiên, chẳng hạn khả năng làm báo trên mạng, phản ảnh sinh động cuộc sống của giới trẻ.

Với lốc, họ là những ông vua của thế giới mạng, một thế giới không biên cương. Chính vì tự coi mình là một ông vua, nên nhiều người đà biến lốc trở thành một thế giới ích kỷ, một nơi truyền bá những quan điểm thiếu lành mạnh của mình.

Một cậu học trò lớp 11 đã dành mỗi ngày 8 tiếng đồng hồ để viết và trang trí cho lốc của mình. Đồng thời, qua đó cậu hô hào chống lại sự “chuyên chế” của gia đình, mà cậu gọi đó là “thuộc địa của những lễ giáo phong kiến”. Mỗi ngày cậu đưa lên mạng khuôn mặt “tội nghiệp” của mình sau những trận “tra tấn” bằng cách răn dạy của cha mẹ. Thỉnh thoảng cậu lại bỏ nhà đi chơi, có khi một hai ngày và cậu rất tự hào coi đó là những “cuộc đào tẩu thoát khỏi sự kìm kẹp của cha mẹ”.

Hành động này đã gây nên những hậu quả rất tai hại, vì đám bạn cậu rất ủng hộ lập trường của cậu và tôn cậu lên làm “đại ca”. Thỉnh thoảng cả đám bạn này cùng với đại ca của mình lại trốn nhà đi chơi, tiêu phí tiền bạc của cha mẹ.

Một cô bé khác với biệt danh là “búp bê Bắc Kinh” lại quảng bá cho lập trường yêu chuộng tự do của mình. Cô bé phát biểu :

- Con gái ở xứ mình đến hắt xì hơi cũng phải xin phép.

Vì thế, cô bé hô hào giới trẻ vùng dậy chống lại mọi thứ lễ giáo, chống lại cha mẹ và những người vốn đặt ra luật lệ kỷ cương và kìm hãm sự phát triển.

Những lốc như trên phải chăng là một kiểu tuyên truyền cho những tư tưởng độc hại?

Ngoài những lốc mang nặng tính cách đấu tranh, phổ biến những quan điểm lệch lạc, còn có những người đã biến lốc của mình thành một trang web đen, bằng cách phóng lên đó những hình ảnh khiêu gợi, những hình ảnh chụp lén ở ngoài đường hay ở những nơi sinh hoạt công cộng khác. Cùng với những hình ảnh này là những lời chú thích đầy khiêu khích. Tất cả đều được coi là thứ hàng độc, là một cách chơi trội để hơn người khác.

Lốc không phải chỉ ảnh hưởng tới giới trẻ, mà đôi khi còn làm tê liệt đời sống gia đình. Gã không có kinh nghiệm gì về vấn đề này, nên xin trích một vài đoạn trong một bài viết của Nguyên Phương, đăng trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số ra ngày 15 tháng 4 năm 2007, như sau :

…Vợ chồng tôi cưới nhau đã hơn 20 năm. Cuộc sống của chúng tôi tương đối đầy đủ vì cả hai đều có thu nhập ổn định. Bé Vy, con gái duy nhất của chúng tôi, đang theo đại học năm cuối.

… Một bữa, Vy đi học về sớm, nhìn tôi chăm chăm :

- Mẹ, có khi nào mẹ…mất ba không?

Tôi chưng hửng:

- Con ăn nói gì kỳ vậy, Vy?

- Con không kỳ đâu, mẹ theo con.

Con bé lôi tôi vào phòng như một cơn lốc, bật CPU.

- Gì vậy con, để mẹ nấu cơm.

- Mẹ cứ lo nấu cơm đi, có ngày mất ba thiệt đó.

- Là sao, con giải thích cụ thể đi.

- Mẹ biết lốc không?

- Lốc hả, mẹ có nghe nói, nhưng liên quan gì đến ba con?

- Mẹ ơi, ba tạo lốc lâu rồi, pây-viu (page views) đã lên tới mấy chục ngàn, lít-phren (list friends) hơn cả trăm người.

- Ừ, thì sao?

- Thì ba bắt đầu quan tâm tới mấy lốc-gờ (blogger) khác chứ sao!

- Trời ơi, con nói cái gì mẹ không hiểu?

- Có gì mà không hiểu, mỗi người trên thế giới mạng tạo cho mình ít nhất một lốc, đặt níc-nem (nickname), đì-zai (design) theo gu của mình, rối bắt đầu viết en-trai (entry). Lốc nào có nhiều en-trai hay sẽ được đông đảo lốc-gờ theo dõi, còm-măng (comment), đòi ạt (add)…

- À, vậy là ba con viết an-trai hay nên có nhiều người còm-măng và đòi ạt hả?

- Ba con viết cũng hay, nhưng có nhiều người hay hơn. Trong số phren của ba nổi bật một lốc-gờ có níc (nick) là Ướtmi. Cô này viết về tổ ấm của mình…

- Trời, tưởng gì, cái đó mẹ cũng viết được vậy. Mẹ cũng có ba, có con.

Con tôi khẳng định chắc nịch làm tôi cụt hứng :

- Không dám đâu! Mẹ sẽ không bao giờ viết được như cô ấy. Vì cô ấy tỏ ra rất sâu sắc, rất nhạy cảm tinh tế và dặc biệt là rất “prồ” nữa. Bên cạnh những trang viết về chồng con, cô ấy còn có những bài rất hay về ba mẹ, họ hàng, bè bạn, thời thơ ấu, thời thiếu nữ, shopping…Bài nào cũng hay. Cô ấy lại siêng viết mỗi ngày nên thu hút được cả mấy trăm ngàn lượt người đọc. Đến con từng là học sinh giỏi Văn mà cũng phải gật gù tấm tắc khi đọc lốc cô ấy.

- Nhưng tại sao con biết ba con có lốc và quan tâm đến lốc cô ấy?

- Bạn con cho con ling (link) của lốc Ướtmi, con đọc thấy thích nên ạt Ướtmi vào lốc mình, rồi vào lít-phren của cô ấy và thấy ba.

- Sao con biết đó là ba?

- Mặc dù ba lấy níc là Rong Rêu, nhưng con vẫn biết đó là ba, vì cái a-va-ta (avatar) ba đề là hình ba dắt con đi lãnh thưởng hồi học mẫu giáo, cái hình trắng đen đó, mẹ nhớ không?

Tôi cười phá lên :

- Trời, ba con mà rong rêu nỗi gì, bình thường thấy ổng khô như ngói mà!

- Vậy là mẹ không hiểu ba rồi. Ba con là người rất giàu tình cảm, con theo dõi lốc ba cả năm nay nên con biết. Ba viết lại các kỷ niệm khi học phổ thông, lên đại học, về hoa lá cỏ cây, quán cà phê, về cô N, cô X gì gì mà ngày xưa ba yêu và yêu ba. Nhưng con thích nhất en-trai “Con gái của ba”. Bài đó ba nói ba hối hận vì đã quát con khi con đòi đi học hip-hop, ba nói là ba hiểu ai cũng có một thời tuổi trẻ, ba còn nhắc lại đã vui khi thấy con biết lật, biết đi thế nào, đau lòng khi con bị sốt xuất huyết ra sao…Nhờ đọc lốc ba mà con thương ba hơn đó.

- Vậy ba có nói gì về mẹ không?

- Dạ không.

Tôi lặng đi.

…Dạo này tôi không còn xem tivi buổi tối nữa. Tôi lên phòng bé Vy, đọc lốc anh và lốc “người ta” dưới sự hướng dẫn của chuyên viên mạng là con tôi. Tôi đọc kỹ từng en-trai của anh, từng com-măng người ta gửi cho anh và anh đáp trả người ta. Không ngờ chồng tôi “trẻ hóa” quá…

Con tôi bảo:

- Cô ấy ạt ba sau khi đọc một en-trai của ba có nhắc đến tên cô ấy.

Tôi dò tìm :

- “…Những người ưa che giấu nỗi buồn thường là những người buồn lâu và buồn sâu nhất. Mong Ướtmi đủ bản lãnh vượt qua những giai đoạn khó khăn trong đời…”

Và đây là com-măng của người ta :

- “Cảm ơn moungu chưa quen bao giờ nhưng lại thấu hiểu một ngóc ngách tâm hồn của Ướtmi…Cho phép Ướtmi ạt bạn vào phren nhé!”

Và en-trai này :

- “Hôm nay bé Mía sốt cao quá. Mình đã gọi cho anh hai lần, nhưng lần nào anh cũng từ chối. Mình hiểu là anh đang có nhiều công việc, nó ngăn không cho anh chạy về với mẹ con mình như ngày nào…”

Cũng từ en-trai này mà con tôi cho rằng mẹ sắp mất ba :

- Ba không cầm lòng được nên đã đi mua một con gấu bông. Con không biết ba chuyển bằng cách nào mà mấy ngày sau khi bé Mía lành bệnh, cô ta đã post hình đứa bé ôm con gấu trắng lên, rồi viết là “Chú Rong Rêu ơi, chú chưa biết bé Mía thương con gấu thế nào đâu. Không có nó là bé không chịu ngủ đâu!”

- Thôi, con không nên nghĩ ngợi lung tung. Chuyện ba tặng quà cho một đứa trẻ cũng thường thôi.

Con tôi cong môi nói :

- Không đâu, ba tặng vì thương mẹ nó ấy chứ.

Tôi trấn an con mà lòng dạ nào yên. Không ngờ cái thế giới tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, “sắc sắc không không” đó lại có thể khiến chồng tôi dành công sức và thời gian cho nó đến vậy.

Nơi đó, anh tự do hồi tưởng, tự do mơ mộng, tự do độc thoại, cũng như đối thoại và mong ngóng chia sẻ. Nơi đó không có người đàn bà ngoài 50, vóc dáng sồ sề, tối ngày chỉ biết còng lưng lo chuyện tiền nong, cơm nước, cằn nhằn. Nơi đó toàn là những đôi cánh thiên thần thuần khiết và ăm ắp xúc cảm. Chuyện đời đẹp như thơ như tranh.

Tôi biết phải làm gì bây giờ? Chẳng lẽ nhờ con biến mình thành một “lốc-gờ”. Hay là tôi sẽ cam phận…mất chồng, như con tôi đang dự đoán ?

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

Tây và Ta


Khi học về tâm lý, gã được biết nơi con người có hai yếu tố luôn ảnh hưởng lẫn nhau, đó là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Trước hết, yếu tố bên trong ảnh hưởng tới bên ngoài. Chẳng hạn khi buồn, ta có cảm tưởng như môi trường chung quanh cũng ảm đạm và tê tái như muốn chia sớt nỗi buồn đang đầy ứ trong cõi lòng của ta. Vì thế, Nguyễn Du đã viết :

‘Cảnh nào, cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ.’


Tiếp đến, yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới bên trong. Chẳng hạn vừa mới ngủ dậy mà bỗng trời đổ mưa, ta liền cảm thấy một chút lười biếng, chả muốn bắt tay làm bất cứ công việc gì, mà chỉ muốn nằm ngủ nướng trong chăn cho đẫy con mắt. Chẳng hạn đang đi thất tha thất thểu ngoài phố, bỗng nghe thấy một khúc quân hành, ta liền cảm thấy phấn chấn hẳn lên, bước đều bước theo điệu nhạc đong đưa.

Một trong những yếu tố bên ngoài khá quan trọng đó là địa dư, hay nói một cách nôm na là nơi ăn chốn ở. Yếu tố này cũng đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành con người chúng ta. Thực vậy, nhìn vào bản đồ, gã thấy có bốn hướng: Đông tây nam bắc. Như thế, người bắc khác với người nam và người phương đông khác với người phương tây.

Thực vậy, tuy cùng là dân Việt mình với nhau, nhưng người bắc có một số đặc điểm khác với người nam. Gã chỉ xin đưa ra một thí dụ nho nhỏ mà thôi.

Chẳng hạn tại miền bắc đất đai thì ít, còn sông Hồng Hà như bà già khó tính hay như cô gái đỏng đảnh, gây nên lụt lội thất thường. Chính vì phải đương đầu với một hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy, nên người bắc thường chí thú làm ăn, tích lũy tiền của phòng khi tai ương hoạn nạn xảy ra.

Trong khi đó, tại miền nam, ruộng đất thẳng cánh cò bay, còn sông Cửu Long, như người mẹ hiền hay như cô gái dịu dàng, lụt lội cứ đúng hẹn lại lên, không có sức tàn phá dữ dội, nhưng mang lại phù sa cùng mọi thứ tôm cá. Đứng trước môi trường được thiên nhiên ưu đãi như thế, người miền nam thường sống một cách nhàn hạ, chả cần phải ky cóp, nhưng làm ngày nào xào ngày ấy.

Vào năm 1954, cả triệu người miền bắc di cư xuống miền nam. Sau năm mươi năm chung sống, những người bắc 54 cũng đã mang lấy không ít thì nhiều những đặc tính của người miền nam. Thành thử bây giờ họ không còn cần cù siêng năng mấy so với những người bắc 75, tức là những người vào nam sau ngày thống nhất đất nước.

Bây giờ gã xin so sánh người tây với ta. Người tây dĩ nhiên là sống ở phương tây, còn ta thì dĩ nhiên sống ở phương đông. Vị trí đông và tây này cũng đã ảnh hưởng trên con người và tạo nên những khác biệt.

Vì sống ở bắc bán cầu với khí hậu lạnh, người tây thường to con, trắng trẻo và râu tóc rậm rạp. Còn ta vì sống gần đường xích đạo, nên có vóc dáng nhỏ hơn, da vàng và râu tóc cũng thưa thớt hơn. Người tây dùng màu đen để chỉ sự tang tóc, còn ta thì lại dùng màu trắng. Người tây gọt các thứ từ dưới gọt lên, còn ta thì gọt từ trên gọt xuống. Người tây khi gọi thì ngửa tay ra mà vẫy, còn ta khi gọi thì úp tay xuống mà vẫy. Người tây không ăn thịt chó, còn ta thì lại coi thịt chó là một món khoái khẩu. Thành thử trong những năm gần đây các thứ quán “cờ tây”, “nó kìa”, “sống trên đời”…mọc lên như nấm, có mặt trên khắp nẻo đường đất nước, từ thành thị cho đến thôn quê.

Đó mới chỉ là những khác biệt lẻ tẻ, mà nếu kể ra thì sẽ chẳng bao giờ cùng. Trong khuôn khổ bài viết này, gã chỉ xin tập trung vào mấy điểm khác biệt chính yếu mà thôi. Đầu tiên, là về phép tính ngày tháng năm. Người tây căn cứ theo dương lịch. Còn ta căn cứ theo âm lịch. Vậy thế nào là dương lịch và thế nào là âm lịch ?

Dương lịch hay lịch tây là lịch tính theo mặt trời. Thực vậy, trái đất xoay quanh mặt trời, cứ 365 ngày 6 giờ thì được một vòng. Vì thế, cứ bốn năm lại có một năm nhuận. Và năm nhuận được tính thêm một ngày vào tháng hai. Người tây chắc hẳn là phải ăn tết tây, tức là mừng ngày 1 tháng 1, ngày đầu năm dương lịch.

Còn âm lịch, lịch ta hay lịch tàu là lịch căn cứ vào sự vận hành của mặt trăng chung quanh trái đất. Đối với âm lịch, năm nhuận là năm có thêm hẳn một tháng. Theo Trung Quốc, âm lịch có từ thời nhà Hạ. Ta thì chắc hẳn là phải ăn tết ta, hay còn được gọi là tết Nguyên đán, mừng ngày 1 tháng 1, ngày đầu năm âm lịch. Theo tác giả Toan Ánh trong “Tín ngưỡng Việt Nam” thì : “Nguyên là bắt đầu, đán là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán là tết đầu năm, mở màn cho một năm mới với mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang”.

Ngày nay, qua sự giao lưu văn hóa, đông và tây không còn cách biệt ngàn trùng nữa. Vì thế, ta vẫn giữ lại một số lễ tết chính, chẳng hạn tết Nguyên đán và tết Trung thu, đồng thời cũng mở rộng cửa đón nhận một số lễ tết của người phương tây, chẳng hạn tết Dương lịch.

Và trong những năm gần đây giới trẻ, nhất là tại các thành phố lớn, cũng đã bắt đầu mừng những lễ hội khác, như ngày tình nhan, ngày mẹ hiền, ngày phụ nữ, ngày quỷ dữ Halloween…Chẳng khác gì một anh chàng, vừa có họ với cô dâu lại vừa có họ với chú rể, nên khi được mời dự đám cưới, đã hăng hái phát ngôn vung vít :

- Giai hay gái, tớ cũng đều…xơi tuốt!

Tiếp đến, nếu đưa mắt quan sát, thì gã ghi nhận được hai đặc tính về con người và về xã hội. Hai đặc tính này cũng đã tạo nên những sự khác biệt giữa ta và tây.

Trước hết là về con người. Nếu so sánh, gã thấy người tây vốn thường suy nghĩ bằng cái đầu, còn ta vốn thường suy nghĩ bằng trái tim. Nói cách khác, người tây sống bằng lý trí hơn sống bằng tình cảm, còn ta thì sống bằng tình cảm hơn sống bằng lý trí. Đối với người tây, ngang bằng xổ thẳng, hai với hai phải là bốn, chứ không được nghiêng bên nọ, ngả bên kia. Còn ta thì khác, lắm khi nói vậy mà chẳng phải đâu và trong cách cư xử thường uyển chuyển và du di, bởi vì :

‘ Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình.’

Tiếp đến là về xã hội. Người tây vốn phát triển về khoa học kỹ thuật nên đòi hỏi sự chính xác. Còn ta vốn phát triển về nghề nông, nên cứ thủng thẳng mà đi. Có thể nói được rằng từ thời ông “Bành Tổ” và cho đến ngày hôm nay, xã hội ta vốn dĩ đã là một xã hội nông nghiệp :

‘ Nhất sĩ nhì nông,

Hết gạo chạy rông,
Nhất nông nhì sĩ.’


Người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa. Mà đã trồng lúa, thì đòi hỏi nhiều lao động, nhiều công sức, nhất là vào thời buổi “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, chưa được hiện đại hóa bằng những thứ máy móc lỉnh kỉnh. Vì thế, cần phải đông con nhiều cháu, để cùng nhau chia sẻ và gánh vác những công việc nặng nhọc trên ruộng đồng.

Thế nhưng, ngày nay, với những phương tiện thông tin hiện đại, đồng thời với xu hướng toàn cầu hóa, ta và tây đang xích lại gần nhau bằng những bước chân khổng lồ. Gã không hiểu ta đã tạo được ảnh hưởng gì đối với tây, chứ tây thì đã để lại những dấu ấn sâu đậm trên ta, khiến ta mất dần những nét đẹp truyền thống của mình. Gã chỉ xin đưa ra một vài thí dụ cụ thể :

Chẳng hạn về lòng quí trọng sự sống. Theo một bài viết trên Ephata thì: Vấn đề nạo phá thai của thanh thiếu niên tại Việt Nam đang có khuynh hướng ngày một tăng cao, con số nạo phá thai hàng năm xấp xỉ với tổng số các cháu bé được sanh ra trên toàn quốc. Năm 1997, tổng số sanh trên toàn quốc là 1.138.607 ca, thì con số nạo phá thai là 934.302 ca. Năm 1998, số sanh là 1.101.791 ca, thì nạo phá thai là 861.353 ca. Riêng bệnh viện Từ Dũ mỗi năm có trên 40.000 ca nạo phá thai. Các nhà xã hội học ước tính số người nạo phá thai trong cả nước hàng năm có thể từ 2 đến 3 triệu người. Liên Hiệp Quốc cũng đã báo động và xếp nước ta vào một trong năm nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới.

Chẳng hạn về sự chung thủy trong tình nghĩa vợ chồng. Theo một bài viết của Nữ tu Phạm Thị Oanh thì: Hiện nay, tệ nạn mãi dâm đang xuất hiện dưới nhiều dạng thức: Nhà hàng, cà-phê, karaoke, xông hơi, xoa bóp, vũ trường, chat group trên internet... Ngoài ra nhiều hình thức văn hóa phẩm đen đã khiến nhiều bạn trẻ ngộ nhận cho rằng tình yêu chỉ là sự cuốn hút của cảm xúc, chiếm hữu, tình dục, tiền tài, thương hại. Tình trạng yêu sớm, yêu thử, yêu ào ào theo phong trào, yêu như điên, yêu hết mình xẩy ra nơi học sinh cấp 2, 3, và trong giới sinh viên ngày một tăng. Đó phải chăng là những nhân tố làm nên một dòng nhạc “vô cảm” và “não tình” mà dư luận quần chúng trên báo chí gần đây đã đề cập đến khá nhiều:

‘ Tình yêu đến em không mong đợi gì.

Tình yêu đi em không hề nuối tiếc.’


Tiếp đến là nhiều cặp sống chung không đăng ký kết hôn, không muốn có con để tránh trách nhiệm. Nhiều gia đình được hình thành trong một cam kết hời hợt lợi dụng lẫn nhau. Tất cả những vấn đề đó đã dẫn đến tỉ lệ ly dị ngày một tăng. Theo thống kê của Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Sài-gòn năm 2000, thì mỗi ngày trung bình có 32 vụ ly hôn, vị chi một năm là 11680 chỉ nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn tình trạng bạo hành trong gia đình về mặt thể chất, tinh thần và tình dục cũng rất phổ biến trong nhiều gia đình ở thành phố cũng như ở thôn quê.

Phải chăng đó là những cảnh tỉnh nhức nhối cho cha mẹ và con cái, những báo đồng đỏ cho xã hội. Không khéo thì ta chỉ hấp thụ được những cái xấu, những cái rởm của tây, để rồi trắng tay, mất cả chì lẫn chài, mất cả vốn lẫn lãi. Truyền thống cũ thì chẳng còn, mà cái mới thì lại khập khà khập khiễng. Tây chẳng ra tây, ta cũng chẳng ra ta. Đầu An-nam-mít, đít Phăng-xe hay Ăng-le mà thôi!

chuyện phiếm gã Siêu (Vì tôi là linh mục)

VÌ TÔI LÀ LINH MỤC

Đối với người Việt nam, đề tài linh mục cho đến bây giờ vẫn còn là một đề tài lạ lẫm, bởi đó thỉnh thoảng nó lại được lôi lên sân khấu, nhét vào phim ảnh hay được những ngòi bút đá động tới, mỗi lần như thế thì thường gây nên nhiều ấn tượng, nhiều chú ý và nhiều ồn ào.



Nếu gã nhớ không lầm thì hồi trước giải phóng, Lệ Hằng, một nhà văn nữ, đã viết cuốn tiểu thuyết mang tựa đề là “Tóc mây”, nói về cuộc tình giữa Tố Kim, một cô sinh viên Đà lạt, với Hà vĩnh Duy (?), một linh mục nhạc sĩ.

Tác phẩm này đã tạo nên một cơn lốc, mà lúc bấy giờ thiên hạ gọi là “hiện tượng tóc mây”. Vào thời điểm ấy, gã đang dạy Việt văn tại một trường trung học hẻo lánh vùng Thất sơn khỉ ho cò gáy. Các em nhỏ học sinh, nhất là phe kẹp tóc, đa số là người Phật giáo, thậm chí còn có cả đôi ba cậu sư Miên, đến tuổi thì vào ở chùa theo tục lệ, rồi sau đó mới được thả về nhà lấy vợ…thế mà cũng nhao nhao đòi thuyết trình và hội thảo về tác phẩm này.

Hình như trước hay sau đó ít lâu, nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” cũng được ra lò và chiềng làng.

Bài hát này đã gây được một âm vang khá lớn, thậm chí những lúc buồn tình, các cô gái ngây thơ cũng chu mỏ và ngay cả các “ma xơ” cũng mở miệng nghêu ngao :

- Vì tôi là linh mục,
Không mặc chiếc áo dòng,
Nên chi đời đau khổ,
Nên trót đời lang thang…

Hẳn đây là tâm sự buồn của một linh mục lỡ dại trót yêu một tín đồ duy nhất, nên đã cởi bỏ chiếc áo chùng thâm mà đi bụi đời ?

Sau giải phóng, hễ nghe có cuốn chuyện nào viết về linh mục, gã cũng vội vã đi mua hay đi mượn mang về coi cọp, chẳng hạn như Bão biển của Chu văn, Người mục tử trong sương mù…

Lúc đầu thì đọc ngấu đọc nghiến vì tò mò, nhưng chỉ được dăm bảy trang thì bèn giở quẻ ngáp dài ngáp vắn, ngáp lên ngáp xuống, ngán đến tận cần cổ, đành phải cố nhướng mắt mà nuốt cho hết thế mà nó vẫn chẳng chịu trôi.

Bởi vì, ngay từ những trang đầu gã đã ngửi thấy sặc sụa mùi bôi bác và đã nhận ra ý đồ đen tối của những tác giả trong luồng, đó là chụp lên đầu những vị linh mục tội nghiệp ấy cái mũ phản động hay cái mũ đồi trụy.

Chính vì những toan tính bẩn thỉu và lộ liễu ấy, nên những cuốn chuyện này đã mau chóng bị chìm vào quên lãng, chẳng cuốn hút được người đọc, thậm chí còn phản tác dụng, khiến thiên hạ lại càng thương cho…mấy ông cha hơn.

Xét về nguyên do của việc tu trì, thiên hạ thối mồm thường bảo :
- Trốn việc quan đi ở nhà chùa…Chán đời, hay thất tình thì đi…tu, bởi vì tu là cõi phúc, tình là giây…thung.

Và người ta đã khai thác chủ đề này, viết thành những tác phẩm nổi tiếng, chẳng hạn như “Hồn bướm mơ tiên”, hay dàn dựng thành những vở kịch ăn khách, chẳng hạn như “Chuyện tình Lan và Điệp”

Gã chơi thân với một anh chàng. Anh chàng này thương một cô nàng, nhưng đây chỉ là một tình yêu đơn phương, có nghĩa rằng thì là anh chàng thì thương da thương diết, còn cô nàng thì lại lạnh lùng, ngoảnh mặt làm ngơ, khiến cho lái tim của anh chàng cứ héo hắt và quay quắt.

Thế rồi, cô nàng đi lấy chồng, kết tóc xe duyên với một thằng bạn cùng học chung “mí nhau” từ thuở còn mặc quần thủng đũng. Lái tim anh chàng tan nát theo kiểu :
- Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ,
Trong trái vải cô đơn.

Anh chàng thẫn thờ thờ thẫn như kẻ mất hồn, lang thang như người cõi trên và miệng thì lảm nhảm theo giai điệu của bài “Love story” :
- Ôi biết nói gì cuộc tình quá lớn.
Cuộc tình quá lớn ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá.
Cuộc tình lớn quá ôi biết nói gì cuộc tình quá lớn.
Cuộc tình quá lớn ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá…

Sau cú sốc quá đau vì cuộc tình quá lớn bị vỡ tung, anh chàng lặng lẽ khăn gói quả mướp, lê từng bước chân âm thầm vào một nhà dòng và tu ở đó. Ơn Chúa tuôn đổ. Một thời gian sau, anh chàng được thụ phong linh mục. Trong ngày mở tay, cô nàng dắt cháu bé tới và nói :
- Con ạ cha đi con.
Cha mới chớp chớp đôi mắt “mơ huyền” và lãng đãng nhìn về chốn xa xôi…Bây giờ mỗi khi nhắc lại chuyện xưa, vị linh mục này thường hay mỉm cười nói với bè bạn :
- Nếu không bị cô nàng đá lên đá xuống, toạc đầu xẻ mũi, thì có lẽ mình đã làm bố cụ, chứ đâu có thèm làm cụ như anh em thấy đó. Chúa chọn con như sét chọn một cây tầm thường. Quả là ý Ngài nhiệm màu hết xảy.

Bên đạo chúng ta, lý do “thất tình đi tu” chẳng phải là không có, nhưng xem ra rất họa hiếm vì chú nhóc thường vào chủng viện hay nhà dòng từ hồi nhỏ, tóc còn để chỏm.Thế nhưng, ở cái thuở “thò lò mũi xanh” ấy, chú nhóc làm sao hiểu được ơn gọi là đí gì ?

Đơn giản, chú nhóc thích đi tu chỉ vì thấy mấy “cụ” được đi giày tây, ăn bánh tây và ở nhà tây. Ra ngoài đường được cả và thiên hạ khoanh tay cúi đầu chào :
- Con xin phép lạy cha ạ.

Đôi khi cha mẹ muốn cho con cái đi tu chỉ để sau này chúng được nhàn hạ và hạnh phúc, như lời phát biểu hăng tiết vịt của bà hiền mẫu nọ với cha phó kia trong một cuộc hội họp hàng tháng :
- Đi tu như các cha các dì thế mà sướng, chứ đèo bồng ở ngoài đời như chúng con khổ lắm cha ạ.

Có chú nhóc đi tu chỉ vì ông già, bà già thầm mong được mọi người gọi mình là “ông cố”, “bà cố”. Bởi cái giấc mộng vàng ấy, khi thấy chú nhóc của mình trở chứng, muốn giã từ đời tu, một ông “chuẩn cố” đã thẳng thừng nói với “chú nhà tràng” như sau :
- Thà rằng mày làm con chó nhà Đức Chúa Trời, còn hơn là làm vương làm tướng ngoài thế gian, con ạ.

Những lý do “lôm côm” ban đầu này cùng với năm tháng dần dần được đẽo gọt, được mài dũa, để rồi kết tinh và cô đọng lại thành cái lý tưởng phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.

Trong thánh lễ mở tay của cha mới, các vị giảng thuyết thường hùng hổ đến xùi cả bọt mép đề cao vẻ đẹp tuyệt vời của thiên chức linh mục, ít ai cả gan dám đề cập tới những thập giá của tước vị này, khiến cho cha mới chỉ nhìn thấy bông hồng mà quên đi những gai nhọn của nó.

Với những lời ca ngợi và chúc tụng ấy, ngày mở tay được coi như là đỉnh vinh quang Taborê của cha mới, không khéo thì cha mới cũng thưa lên với Chúa như Phêrô ngày xưa :
- Lạy Thày, chúng con được ở đây thì thích lắm. Chúng con xin làm ba lều, một cho Thày, một cho Maisen và một cho Elia.

Thế nhưng, tiệc rượu thì chóng tàn, ngày vui thì qua mau, vinh quang Taborê chỉ kéo dài trong thoáng chốc, để rồi tới lúc phải xuống núi và đối đầu với thập giá đời thường. Và đời thường thì nhiêu khê, lắm nỗi truân chuyên và nhiều phen lao đao, xất bất xang bang…
Các bậc lão thành thường đề cập tới ảnh hưởng của linh mục đối với giáo dân như sau :
- Linh mục thánh thiện thì giáo dân đạo đức. Linh mục đạo đức thì giáo dân loàng xoàng. Linh mục loàng xoàng thì giáo dân nguội lạnh. Linh mục nguội lạnh thì giáo dân xấu xa. Linh mục xấu xa thì giáo dân biến thành… quỉ dữ.
Như thế, giáo dân bị đánh tụt một bậc so với linh mục. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi vì linh mục là sư phụ, còn giáo dân là đệ tử về đàng thiêng liêng. Đệ tử làm sao hơn sư phụ. Linh mục là người hướng dẫn. Nếu người hướng dẫn mà mù, thì như lời Chúa đã dạy :
- Mù dẫn mù, cả hai đều lăn tòm xuống hố.
Cùng với những ý tưởng trên, gã nhớ tới một bài giảng nhân ngày mở tay của một cha mới. Đại khái như thế này :
“Hãy cột một chiếc nút để xe kết hai đầu giây, đó là linh mục, bởi vì linh mục xe kết con người với Thiên Chúa. Hãy xây một cây cầu nối liền hai bờ bến xa cách, đó là linh mục bởi vì linh mục nối liền đất với trời. Nói cách khác, linh mục là trung gian giữa nhân loại và Đấng Tối Cao.
“Vì vậy, một bên linh mục phải nắm chặt lấy bàn tay Thiên Chúa, còn một bên linh mục phải nắm chặt lấy bàn tay con người, để rồi đặt bàn tay con người vào lòng bàn tay của Thiên Chúa, cho tình yêu được đâm bông kết trái và ơn tha thứ được trao ban. Chính cái thế tay trong tay này là điều chúng ta mong mỏi nơi các linh mục.
“Cái thế tay trong tay ấy đòi hỏi linh mục phải gắn bó với Thiên Chúa đã đành mà con phải gần gũi với con người. Nếu linh mục rời bỏ một trong hai bàn tay, không nắm chặt lấy bàn tay Thiên Chúa hay không nắm chặt lấy bàn tay con người, lúc bấy giờ linh mục sẽ không chu toàn chức vụ của mình.
“Phải gắn bó với Thiên Chúa, đó là bổn phận thứ nhất của linh mục. Thực vậy, nhiệm vụ của linh mục là không ngừng đem Chúa đến cho mọi người. Và muốn đem Chúa đến cho mọi người thì chính bản thân linh mục phải là người có Chúa trước đã. Có Chúa trong tâm hồn và có Chúa trong cuộc đời vì linh mục không thể cho người khác cái mình không có.
“Đức Kitô phải chiếm chỗ nhất trong trái tim linh mục, phải là thần tượng của linh mục, phải là điểm khởi đầu và kết thúc của cuộc đời linh mục, phải là trọng tâm cho mọi hoạt động của linh mục. Trái đất xoay quanh mặt trời thế nào thì cuộc đời của linh mục cũng phải xoay quanh Đức Kitô như vậy, để rồi linh mục có thể hãnh diện nói lên như thánh Phaolô : Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.
“Tiếp đến linh mục còn phải gần gũi với con người. Gần gũi với con người bằng cách chia sẻ những lo lắng, cảm thông những khó khăn và tận tình giúp đỡ những cần thiết, để rồi từ đó linh mục sẽ chỉ cho con người nhận ra bàn tay dịu hiền và trái tim nhân hậu của Thiên Chúa.
“Phải gắn bó với Thiên Chúa nhưng đồng thời cũng phải gắn bó với con người. Phải nắm chặt lấy bàn tay Thiên Chúa cũng như phải nắm chặt lấy bàn tay con người để tạo cho được cái thế yêu thương tay trong tay.
“Tội lớn nhất của linh mục không phải là đã trót sa ngã, đã trót vấp phạn, bởi vì Thiên Chúa không chọn các thiên thần, nhưng đã chọn những con người tầm thường và yếu đuối làm linh mục của Ngài. Tội lớn nhất của linh mục, đó là đã rời bỏ một trong hai bàn tay ấy. Hoặc là đã quay lưng chống lại Thiên Chúa, hoặc là đã thờ ơ lạnh nhạt với anh em đồng loại. Lúc bấy giờ, linh mục chỉ còn là một nhịp cầu đã gẫy, một nút giây đã đứt hay một người lính đã đào ngũ. Trong chiến tranh, mục tiêu kẻ thù thường nhắm tới trước hết để triệt hạ, để phá hủy, chính là những cây cầu…”
Từ đó, gã không ngạc nhiên khi thấy người ta cố ý bôi nhọ và bêu rếu các linh mục, bởi vì đó là mưu thâm chước độc của …”địch”.
Tuy nhiên, không phải chỉ phe địch mới bôi nhọ và bêu rếu các linh mục, nhiều khi chính con cái trong nhà cũng đã bạo phổi và mạnh miệng chỉ trích các linh mục một cách đầy ác ý. Họ luôn hỏi rằng :
- Linh mục đã làm gì cho tôi ?
Nhưng lại chẳng bao giờ dám nhìn thẳng vào lương tâm để kiểm điểm xem :
- Tôi đã làm gì cho linh mục.
Hễ thấy linh mục có chút gì sai lỗi thì lập tức liền xì xầm bàn tán, rồi mím môi mím lợi thổi phồng bong bóng. Họ đâu có ngờ rằng rất nhiều khi chính giáo dân đã làm hư linh mục.
Sau đây gã chỉ xin trình bày hai trường hợp, hai thái cực nho nhỏ, trong đó giáo dân đã xô linh mục vào chân tường, đã đẩy linh mục tới chỗ bất ổn hay đã làm hư linh mục.
Trường hợp thứ nhất đó là thái độ quá trọng kính đến độ khúm núm, coi linh mục như là một người thông biết mọi sự và chẳng hề sai lỗi bao giờ. Mới ngày nào bè bạn còn “mày tao chi tớ” mí nhau, nhưng một khi đã thụ phong linh mục, từ hòn đất được cất nên ông bụt, thì lập tức được gọi là cha, là cụ, là cố…khiến cho thiên hạ, kể cả những người thân yêu nhất, cũng phải “kính nhi viễn chi”.
Trọng kính linh mục là điều rất tốt, nhưng quá trọng kính đến độ khúm núm thì lại là điều nguy hiểm vì nó dễ làm cho linh mục quên đi mình xuất thân từ một cục đất, mình chỉ là một dụng cụ tầm thường trong bàn tay Thiên Chúa, đồng thời luôn mang ảo tưởng mình là một ông bụt, mình là cái rốn của vũ trụ, rồi từ đó trở thành quan liêu, độc tài, độc đoán và…mất dạy.
Đọc tới đây, hẳn có người sẽ nghĩ rằng :
- Tên này thật lếu láo, dám cả gan bạo phổi nói mấy cố mất dạy, thì đúng là hết thuốc chữa.
Bởi đó, gã xin lớn tiếng thanh minh thanh nga rằng :
- Mất dạy ở đây không có nghĩa là vô phép, hỗn hào… mà đơn giản chỉ là không còn được dạy bảo nữa mà thôi.
Nếu hiểu như thế, cộng thêm với một chút suy nghĩ, chúng ta sẽ nhận ra phần nào sự thật. Đây cũng là lời khuyên của một bà cố nói với người con của mình vừa mới đỗ cụ :
- Con ơi, kể từ ngày hôm nay, nếu con không ý tứ, thì con sẽ trở nên một người mất dạy, bởi vì với chức linh mục, con sẽ không còn được ai dạy bảo nữa.
Đúng thế, xuất phát từ quan niệm cho rằng linh mục là người thông suốt mọi sự, nên trong bối cảnh của xã hội Việt Nam, linh mục thường phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau. Từ một người rao giảng lời Chúa và cử hành các Bí tích cho đến một người đứng ra hòa giải các vụ tranh chấp và kiện tụng, làm cố vấn cho các đôi hôn nhân và các gia đình, làm kỹ sư kiêm đốc công cho các dự án xây dựng, làm quân sư quạt mo hướng dẫn bà con về cung cách làm ăn…Ấy là chưa nói tới những linh mục còn phải lãnh nhận cả những chức vụ phần đời, như thành viên của tổ chức này, phần tử của tổ chức nọ, đứng đầu hợp tác xã hay làm chủ máy cày, máy xay…
Với những công việc vừa đa dạng, vừa bận rộn như thế, linh mục rất dễ sao lãng việc sống gắn bó với Chúa qua những tâm tình cầu nguyện. Từ việc sao lãng ấy, linh mục không còn nhận ra sự soi dẫn và chỉ bảo của Chúa nữa, để rồi trở nên mất dạy dưới cái nhìn xót xa của Chúa.
Tiếp đến, do những thành công gặt hái được và nhất là do những trọng kính thái quá người ta dành cho mình, linh mục cứ ngỡ rằng mình là một bậc thày lỗi lạc, trổi vượt lên trên mọi người, ý kiến của mình phải luôn luôn đúng…nên dễ dàng gạt phăng xi lô những ý kiến đóng góp, những đề nghị xây dựng khi những ý kiến đóng góp và những đề nghị xây dựng ấy khác với đường lối chủ trương của mình.
Từ đó, như đã trình bày, linh mục dễ rơi vào tình trạng độc tài và độc đoán, không còn biết lắng nghe và đón nhận. Như vậy, phải chăng linh mục cũng đã làm cho mình dần dần trở nên mất dạy ?
Ấy là chưa nói đến những trường hợp vì đa đoan công việc, linh mục sao lãng chuyện tìm hiểu và trau dồi thêm kiến thức đạo đức, khoa học, xã hội…qua sách vở, báo chí và những phương tiện truyền thông khác, để rồi trình độ mỗi ngày một xuống cấp và không sớm thì muộn cũng sẽ bị “tụt hậu”.
Trong ngôn ngữ thường ngày, người giáo dân được gọi là con chiên. Quan niệm này xuất phát từ Kinh thánh. Chiên ngoan thì phải biết lắng nghe và vâng phục chủ chăn. Điều đó rất đúng, nhưng phải làm thế nào để xóa bỏ tính thụ động của nó, bởi vì người giáo dân hôm nay tương đối đã trưởng thành, nên cần phải biết chia sẻ trách nhiệm và góp phần xây dựng tích cực của mình vào cộng đoàn dân Chúa.
Trường hợp thứ hai là thái độ vô ơn, nghiêm khắc và thiếu cảm thông của giáo dân đôi khi đã làm cho linh mục buồn đau đến…rơi cả nước mắt.
Một trong những nguyên tắc cư xử thông thường, đó là hãy nghiêm khắc với bản thân mà khoan dung với người khác. Thế nhưng, thiên hạ lại hành động ngược với nguyên tắc thông thường ấy, bằng cách tỏ ra nghiêm khắc với người khác mà khoan dung với chính bản thân mình. Quan điểm này cũng được giáo dân áp dụng vào mối liên hệ với linh mục.
Thiên hạ thường nói : nhân vô thập toàn, đã là người thì ai cũng có những sai lỗi của mình, kể cả linh mục vì linh mục cũng mang thân phận mỏng dòn. Rồi bá nhân bá tánh, năm người mười ý, bàn tay còn có ngón dài ngón ngắn. Hay như tục ngữ cũng đã bảo :
- Ở sao cho vừa lòng người.
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn.
Béo chê béo trục béo tròn.
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra.
Linh mục được sánh ví như người làm dâu trăm họ, nên khó có thể làm vừa lòng mọi người và nếu cố gắng làm vừa lòng mọi người thì rốt cuộc sẽ chẳng làm vừa lòng một ai.
Giáo dân hay quên mất những công ơn linh mục đã làm, mà chỉ nhìn thấy những khuyết điểm của linh mục để lên tiếng phê bình chỉ trích một cách gắt gao, rồi dắt díu nhau lên Tòa giám mục, nộp đơn cho Đức cha hay cho nhà nước mà kiện tụng linh tinh.
Thưở ban đầu, vùng Cái sắn chỉ là một cánh đồng hoang với cỏ dại mọc um tùm. Một cha sở dẫn đoàn chiên của mình tới cắn dùi. Cha sở ấy bỏ công sức, tiền bạc ra xây dựng, từ nhà thờ, nhà xứ đến trường học…
Cùng với thời gian, cha sở mỗi ngày một già. Và đã già thì cũng hay có những sự lẩm cẩm. Trước những sự lẩm cẩm ấy, người ta đã xì xào bàn tán, viết thư nặc danh ném vào phòng, hay tố cáo chỗ này chỗ nọ, chỉ vì cha sở đã già.
Tòa giám mục hay biết liền đổi cha sở đi một nơi khác. Nhận được tin ấy, người ta mừng rỡ ra mặt, nhưng vẫn cử đại diện lên gặp Đức giám mục để xin cho cha sở được ở lại với dáng bộ rất thiểu não. Thế nhưng, khi được hỏi :
- Bộ các ông đã chẳng muốn cho cha đi hay sao ?
Một trong những vị đại diện đã trả lời :
- Cha đi mà mình chẳng níu kéo thì coi sao được. Ôi dào, đời mà.
Nghe câu trả lời này, đến như gã chỉ là một kẻ hậu sinh mà cũng còn cảm thấy tê tái cõi lòng, đúng như người xưa đã bảo :
- Bạc như dân, bất nhân như lính.
Bao lâu linh mục còn khỏe mạnh để phục vụ giáo xứ, thì vẫn là một người cha đáng mến đáng trọng, nhưng một khi đã đau yếu, đã già nua và đã là một gánh nặng, thì liền trở nên một cái gai cần phải nhổ đi. Nói vậy xem ra khí quá, nhưng trong thực tế, có những sự việc xảy ra khiến cho gã phải suy nghĩ.
Một cha sở trẻ chẳng may bị ung thư và qua đời. Việc chạy chữa và mai táng tốn kém khá nhiều. Tốn kém ấy được chi trả bằng tiền riêng của cha sở. Vì không đủ nên còn tồn đọng lại một món nợ. Sau khi cha sở được “mồ yên mả dài”, người ta đã cãi nhau chí chóe về món nợ này. Giáo xứ cũng như dòng họ không ai muốn trả cả. Cuối cùng thì Tòa giám mục đành phải ép lòng ép xác mà nhận vậy…
Một cha sở trẻ khác vừa mới khánh thành ngôi nhà thờ cho giáo xứ thì lâm bệnh nặng. Bệnh nặng chữa không khỏi mà tiền bạc thì lại hao tốn. Cha sở trẻ nằm dưỡng bệnh ở nhà xứ, rồi cứ vài tuần phải đi tái khám và mua thuốc uống tận Saigon. Cứ thế, cứ thế. Lúc đầu chưa có chuyện gì, nhưng sau một thời gian, những tiếng eo xèo bắt đầu nảy sinh, mỗi ngày một lớn cộng thêm với chuyện này chuyện nọ, rồi cuối cùng cha sở trẻ đã phải khóc mà xin đi hưu…non, như “con chim ẩn mình chờ chết”.
Có lẽ thấm thía nhất là nỗi cô đơn của linh mục. Gã nhớ không rõ một tác giả nào đó đã diễn tả :
- Chiều Chúa nhật, mọi người ra về, cửa nhà thờ khóa lại. Một mình tôi đơn độc trong khu nhà xứ rộng mênh mông. Thưa chuyện với Chúa, thì hình như Chúa cũng xa vời. Cuối cùng thì cũng chỉ vò võ một mình, tôi nhìn tôi trên vách.

Nỗi cô đơn sẽ đậm đặc hơn khi linh mục đau yếu. Một cha phó đã bật mí cho gã biết như sau :

- Ngày nọ mình bị đau nhờ chú nhỏ giúp lễ đi tìm người cạo gió. Nhờ bà này hay cô kia thì không ổn, bởi vì thiên hạ sẽ bảo rằng đó là chước mốc ma quỉ. Các bà các cô, hiền thì có hiền, nhưng đôi khi cũng dữ như sư tử Hà đông. Khi đoàn “nữ binh mùa thu” này mà đã loan tin bằng chiến thuật rỉ tai thì còn nhanh hơn cả những máy móc điện tử hiện đại nhất. Được dặn dò kỹ càng, chú nhỏ giúp lễ kêu về một ông hàng xóm đang trong tình trạng say không ra say, xỉn không ra xỉn, mới xơi đâu được ba xị rượu đế. Mà như dân ghiền thường bảo : một xị thì mở mang trí hóa, hai xị thì giải bớt cơn sầu, ba xị thì mũi chảy đầy râu, bốn xị thì ngồi đâu khóc đó…Vì được thoa dầu, nên khi cạo gió thân thể mình đang nóng bừng bừng, thì bỗng dưng cảm thấy lạnh toát ở xương sống, hóa ra nước mũi của ông hàng xóm cứ vô tư rơi thánh thót trên tấm lưng của mình. Lần khác khi giác, ông ấy đã đổ ụp cả một ống dầu hôi lên người…Nhiều khi đau ốm, đành âm thầm nằm ngó lên trần mà xem những con thằn lằn đuổi nhau.

Sau cùng, nỗi cô đơn sẽ đặc quánh khi linh mục về già. Nhà hưu thì nơi có nơi không. Mà có thì cũng khá xập xệ. Còn về ở với gia đình, không phải là không bất tiện. Nếu mình có tí tiền còm giắt cạp quần, thì con cháu xem ra hăm hở nhiệt thành. Nhưng khi tiền đã hết, thì tình cũng chấp cánh bay cao và sự chăm sóc bèn trở thành một gánh nặng. Có khi chưa chết mà chúng đã vội chia chác, hay chôm chỉa được cái nào hay cái ấy.

Mặc dù còn dài, nhưng gã xin “xì tốp” nơi đây bằng vài mẩu chuyện nhim nhím.

Chuyện thứ nhất : Đức giáo hoàng Piô X, ngay sau khi vừa được tấn phong làm Giám mục Montova, đã về thăm gia đình và khoe với mẹ chiếc nhẫn giám mục của mình :
- Này bu, bu xem chiếc nhẫn Giám mục của con có đẹp hay không ?
Người mẹ bèn giơ ra chiếc nhẫn cưới đang đeo trên tay và bảo :
- Nếu không có cái này thì làm sao có cái kia.

Chuyệnthứ hai : Nghỉ hè, mấy thày rủ nhau đi Lái thiêu. Ban trưa ghé vào một gia đình mượn con dao để bổ trái cây. Chủ nhà là một sư huynh Lasan đã xuất và lập gia đình, bèn nói với các thày như sau :

- Hãy cố mà tu cho đắc đạo để làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Còn không tu được thì cũng chẳng sao, về đây qua sẽ liệu cho. Bởi vì lũ con của qua toàn là…thị mẹt không à. Bậc sống nào cũng tốt. Tu là cõi phúc mà tình cũng là cõi phúc, miễn là mình đi đúng con đường của Chúa.

Từ khi đi chủng viện cho tới lúc ra làm cha, tỷ lệ 10%, nghĩa là cứ 10 kẻ vào tu thì chỉ có 1 người leo lên tới chức linh mục. Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít. Còn bao nhiêu thì rơi rụng dọc đường. Điều đó chứng tỏ tu không phải là chuyện dễ và đời tu không phải là vắng bóng thập giá. Có ở trong chăm mới biết chăn có rận và đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Đã cố gắng mà chẳng được làm cha cố, thì làm ông cố cũng tốt thôi, vì không có ông cố, làm sao có cha cố.

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

chuyện phiếm của gã siêu (tiếp theo)

Hư!Hư!Hư!...

HƯ - CHUYỆN PHIẾM CỦA GÃ SIÊU



Theo những nhận định về nam châm, gã được biết :

- Khác cực thi hút nhau, đồng cực thì đẩy nhau. Âm với dương thì hút nhau và ngược lại cũng vậy. Còn dương với dương thì đẩy nhau và ngược lại cũng thế.

Trong lãnh vực con người, gã thấy chẳng khác bao nhiêu :

- Nam với nam thì nhiều khi đánh nhau phun cả máu đầu. Còn nam với nữ thì lôi cuốn lẫn nhau, quyện lẫn vào nhau, như tục ngữ đã diễn tả :

- Trai thấy gái lạ, như quạ thấy gà con.

Tuy nhiên, khi phe đờn bà con gái ngồi lại với nhau, thì thường hay nói xấu và dí mũi vào cánh đờn ông con trai. Và cánh đờn ông con trai, khi trà dư tửu hậu, cũng thường hay bới móc và…chõ mõm vào chuyện đờn bà con gái.


Trong một tiệc nhậu lai rai, khi các…”chiến hữu” bắt đầu tửu nhập ngôn xuất, một đấng mày râu đã lớn tiếng so sánh :

- Nếu so sánh con gái với con nai, ta thấy có những điểm khác nhau như sau :

Một là nai luôn ngơ ngác suốt cả đời, còn con gái thì chỉ ngơ ngác mỗi khi cần ngơ ngác.

Hai là nai không bao giờ giả nai cả, còn con gái thì nhiều lúc lại thích giả nai.

Ba là nai có sừng trên đầu, còn con gái thì có sừng trong ánh mắt.

Bốn là nai luôn ăn cỏ, còn con gái thì đôi lúc lại ăn cả thịt nai.

Năm là khi gặp tai nạn, nai biến thành khô nai, còn con gái thì biến thành…mít ướt.

Sáu là nai nhảy tưng tưng trong rừng, còn con gái thì nhảy tưng tưng trong…shop.

Một đấng tu mi khác đã so sanh sự giống nhau giữa đờn bà và con cọp như sau :

- Một là cọp thì gầm, đờn bà nhiều lúc cũng gầm.

Hai là cọp thì uyển chuyền, đờn bà đôi khi cũng uyển chuyển.

Ba là cọp thì được gọi bằng ông ba mươi, còn đờn bà lắm khi được gọi là…sư tử Hà Đông.

Bốn là cọp rất oai phong, còn đờn bà cũng rất lẫm liệt, chẳng thế mà người xưa đã bảo : nhất vợ nhì giời, lệnh ông không bằng cồng bà.

Năm là cọp rất quan tâm tới móng vuốt, còn đờn bà cũng rất quan tâm tới móng chân móng tay.

Sáu là cọp nổi tiếng về da, đờn bà cũng chăm chút về làn da cùng với áo quần của mình.

Bảy là cọp đôi khi chỉ vồ chứ không ăn, đờn bà đôi khi chỉ yêu mà không lấy.

(Báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 8 ra ngày 4.3.2007)

Giữa lúc bầu khí đang hồ hởi, thì bỗng anh chàng chiến hữu, sắp sửa đi vào tình trạng ngắc ngư con tàu đi, đã phát biểu một câu …xanh lè, khiến cho bàn dân thiên hạ ngẩn tò te :

- Còn tớ ấy hả, tớ vừa mới khám phá ra một chân lý, mới nghiệm một qui luật của muôn đời, đó là : Đờn ông, muốn hư thì phải có tiền, còn đờn bà, muốn có tiền thì phải…hư.

Câu nói trên đây đã làm cho gã đi từ chỗ ngẩn tò te, đến chỗ cúi đầu và suy gẫm.

Dĩ nhiên, câu nói này không hoàn toàn đúng “một chăm phần chăm đâu em ơi”, bởi vì nhiều ông có tiền, được liệt vào hàng đại gia, giàu nứt đố đổ vách mà đâu có hư, đồng thời cũng có nhiều bà đã kiếm được tiền bằng chính công sức, mô hôi, nước mắt của mình và họ cũng chẳng bao giờ hư đốn cả.

Tuy nhiên, câu nói trên cũng phản ảnh phần nào sự thật, nhất là sự thật về một hạng người nào đó trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay. Gã xin…bình loạn thêm về câu nói này.



TRƯỚC HẾT, ĐỜN ÔNG MUỐN HƯ, THÌ PHẢI CÓ TIỀN.

Kinh nghiệm cho gã thấy : khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, người ta dễ dàng đạo đức ăn ra, trái lại khi khó khăn đã qua đi và hoàn cảnh trở nên tươi sáng hơn, người ta trở về nếp sống cũ và lại khô khan nguội lạnh, nếu không muốn nói là còn xấu xa hơn trước nữa.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đờn ông con giai thì sợ phải đi tù và học tập cải tạo, còn đờn bà con gái thì sợ phải đi lấy thương phế binh…”Viêt Cộng”, thành thử người ta vội vã tới nhà thờ xưng tội rước lễ, như để dọn mình chết lành vậy, nhà thờ lúc nào cũng đầy ắp những người.

Sau đó, những sinh hoạt tôn giáo trong nước bị hạn chế tới múc tối đa : không còn các hội đoàn, không còn các chủng viện, việc đi lại của các linh mục tu sĩ từ nơi này tới nơi khác cũng khó khăn…Tuy nhiên, càng bị hạn chế, càng gặp nhiều khó khăn, thì dường như người ta lại càng sốt sắng hơn.

Còn bây giờ, chính sách của nhà nước phần nào thông thoáng và hoàn cảnh cũng sáng sủa hơn, người ta lao mình vào công ăn việc làm, người ta ra sức tìm tiền kiếm bạc và dầu tư mọi công sức cho vấn đề cơm áo gạo tiền và làm giàu đã trở thành nỗi ưu tư số một, hay cái lý tưởng sáng chói cần phải thực hiện. Tôn giáo và đạo đức bị tụt hạng, nếu không nói là đã bị một sô người…xếp xó.

Nước Mỹ, ngay sau biến cố 11.9 với tòa tháp đôi của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế bị sụp đổ tan tành, thì dường như chỗ nào cũng dấy lên một phong trào đạo đức : người ta thắp nến để cầu nguyện, người ta xác nhận lại niềm tin vào Thượng Đế, người ta tôn vinh những hành động can đảm của những người đã dám hy sinh mạng sống…Nhưng rồi những cảm tình đạo đức này dần dần bị chìm vào quên lãng, khi người ta thấy mình vẫn được sống trong bình an, đất nước mình vẫn liên tục phát triển và bọn khủng bố chưa dám tái xuất giang hồ, sờ đến gáy hay đá động tới quê hương mình.

Biến cố đau thương này, không phải chỉ là như viên sỏi nhỏ, nhưng là như một tảng đá lớn ném xuống mặt hồ, tạo được những chao đảo, những làn sóng trên làn nước vốn đã từ lâu êm ả. Tuy nhiên, dù sóng có to, thì cũng sẽ tới một lúc nào đó, tảng đá chìm xuống đáy nước và mặt hồ trở lại với tình trạng phẳng lặng và yên tĩnh của mình.

Cùng với nhận định này, gã xin đi xuống lãnh vực cá nhân và gia đình. Sách Cổ Học Tinh Hoa kể lại rằng :

Vua Cảnh Công có cô con gái yêu, muốn gả cho Án Tử. Một hôm nhà vua đến ăn tiệc tại nhà Án Tử, thấy vợ Án Tử bèn hỏi :

- Phu nhân đấy phải không ?

Án Tử thưa :

- Vâng, phải ạ.

Nhà vua nói :

- Ôi, phu nhân trông sao vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có đứa con gái trẻ đẹp muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao ?

Án Tử đứng dậy thưa rằng :

- Nội tử tôi nay thật già và xấu, nhưng lấy tôi và cùng tôi ăn ở đã lâu, kể từ lúc còn trẻ và đẹp. Xưa nay đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lúc đẹp lấy cốt để nhờ cậy lúc xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi mà tôi cũng đã nhận sự nhờ cậy ấy. Nay nhà vua tuy muốn ban ơn chắc cũng không nỡ để cho tôi ăn ở bội bạc với những điều nội tử tôi đã nhờ cậy bấy lâu nay.

Nói đoạn Án Tử lạy hai lạy, xin từ không lấy.

Đọc xong mẩu chuyện này, hẳn có nhiều người cho rằng : Án Tử sao mà khờ quá vậy, chẳng bù cho những con người thời nay.

Thực vậy, có anh chàng “Hai Lúa” được cha mẹ cho lên Saigon…du học. Trước khi khăn gói quả mướp lên đường, anh ta đã thề độc thề địa với người yêu bé bỏng của mình rằng :

- Nếu không lấy được em thì anh sẽ chết. Em ráng chờ đợi anh nhé.

Và trong đầu óc đơn sơ của anh chàng Hai Lúa này đã vẽ nên một cảnh tương huy hoàng như người xưa đã diễn tả :

- Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

Nhưng rồi sau khi đã khều được mảnh bằng, anh chàng Hai Lúa năm nào đã trở thành dân Saigon chính hiệu con nai vàng. Vì cần phải có hộ khẩu ở thành phố, vì cần phải có ô dù che chắn trước sau, vì cần phải mở ra con đường tiến thân, vì cần phải bảo đảm cho công danh sự nghiệp…nên anh ta đã lấy một cô vợ mà nhà thì giàu, bố thì thế lực và quên béng mất cô gái miền quê năm xửa năm xưa. Thật đúng với lời bàn của tác giả Cổ Học Tinh Hoa :

“Ngán thay thói đời giàu hay quên bạn, sang hay phụ vợ. Lắm kẻ lúc còn hàn vi, vợ nuôi cho ăn đi học, một mai được chút tiền của, chức tước, đã phụ ngay vợ cũ mà kiếm vợ mới, hoặc kiếm vào chỗ giàu, chỗ sang hay người trẻ tuổi xinh đẹp hơn. Nhưng kẻ như thế dù viện lẽ gì, cũng chỉ là kẻ phụ bạc cả mà thôi”.

Nhiều ông chồng, khi còn là “bần cố nông”, khi còn nghèo túng, khố rách áo ôm, thì lại sống rất chung thủy và hạnh phúc với vợ với con, thiếu điều như ca dao đã từng diễn tả :

- Trên đồng cạn dưới đồng sâu,

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

- Râu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.

Thế nhưng, khi đã có một địa vị với cái ghế ngồi khá vững chắc và nhất là khi đã có sẵn tiền trong tay, thì bỗng quay phắt 180 độ và bị…hư đi. Dĩ nhiên ở đây gã xin miễn bàn đến chuyện kiếm cho ra nhiều tiền, chẳng hạn như : làm ăn chân chỉ hạt bột, điêu ngoa xảo trá hay tham nhũng hối lộ…mà chỉ bàn tới việc tiêu tiền thế nào khiến cho mình chóng bị hư đi.

Nếu kiếm được tiền mang về nuôi vợ nuôi con, trang bị cho gia đình những tiện nghi thì chả cần phải nói. Nhưng đàng này thì khác, kiếm được tiền và chi cho những cuộc du hí riêng tư của mình, để rồi nhiều khi thân bại danh liệt và gia đình đổ vỡ tan hoang.

Kinh nghiệm cũng cho thấy : có tiền, người ta sẽ dễ dàng “rửng mỡ”, mà lao mình vào những cuộc chơi bời trác táng. Hay nói cách khác, muốn chơi bời thỏa thích thì phải có sẵn tiền trong túi.

Bình thường, sau một ngày lao động mệt mỏi hay căng thẳng, khi chiều xuông, bè bạn thường rủ nhau tới quán nhậu, làm một chầu để mở mang trí hóa, cũng như giải bớt cơn sầu. Chẳng thế mà các tụ điểm ăn nhậu, các nhà hàng cao cấp, các làng nướng cũng như các phố…chó, mọc lên như nấm ở Saigon và ở khắp nơi trên đất nước này,. Còn thức uống thì đủ loại từ rượu ta đến rượu tây, từ nước ngọt đến bia bọt, với các thứ nhãn hiệu trình tòa, từ đẳng cấp địa phương cho tới đảng cấp quốc tế, thôi thì…đủ cả.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhậu tăng một, thì dù có say một tí, cũng vẫn là chuyện thường ngày ở huyện. Thế nhưng, người ta lại tiếp tục tăng hai và ở tăng hai này, người ta nhậu ở đâu và nhậu như thế nào thì chỉ có ông trời mới biết được mà thôi. Cũng vì tăng hai ấy mà người ta phải chi ra không biết bao nhiêu tiền và cũng dễ bị hư đi.

Ngoài những người đã hư đi vì chuyện ăn uống, thì trong thực tế, còn có người hư đi vì chuyện hút sách. Khẩu hiệu được họ đưa ra, đó là :

- Có tiền làm tiên cũng được.

Nếu chỉ bắn thuốc lào, hay hút thuốc lá, thì vẫn là những chuyện thường ngày ở huyện, nhưng đàng này họ lại thích chơi những thứ hàng độc, như bạch phiến, xì ke ma túy… Họ muốn làm bạn với nàng tiên nâu và bản thân muốn được trở thành một…ông tiên, đi mây về gió. Giấc mơ phù du này đòi phải chi những số tiền lớn và cũng chóng kết thúc bằng sự hư đi.

Sau cùng, có tiền mua tiên cũng được. Một số người lại thích cầm tiền đi mua những…cô tiên qua những cuộc tình thầm lén và vụng trộm, những cuộc tình chớp nhoáng và…ngoài luồng, bằng cách chơi bời trác táng hay đèo bòng bồ nhí.

Có những ông gìa đang bước vào cảnh hoàng hôn của cuộc đời, thế mà vẫn cứ anh dũng bỏ vợ trốn con, bỏ tiền ra xây tổ ấm và trang bị những tiện nghi hiện đại cho cô bồ nhí trẻ măng của mình, để rồi nhiều lúc đã phải chịu nỗi đắng cay như ngậm bồ hòn trong miệng :

- Bắc thang lên hỏi ông trời,

Mang tiền cho gái, có đòi được không ?

Có những ông ở nước ngoài về, đã lợi dụng cái “mác” việt kiều, cũng như cái ưu thế của đồng đô la, để rồi chơi bời vung vít và mua đứt không những một, mà có khi cả hai ba cô gái trong nước làm vợ…hờ. Vừa đỡ tốn kém, vừa được cưng chiều, lại vừa bảo đảm an toàn giữa thời buổi căn bệnh HIV bùng nổ như một cơn ác mộng.

Từ những sự việc kể trên, gã có thể kết luận : Đờn ông muốn hư thì phải có tiền. Chứ nghèo rớt mồng tơi thì làm sao dám bước chân vào những nhà hàng cao cấp, những chốn chơi bời du hí và dù có nằm mơ thì cũng chẳng thấy được những người đẹp…chân dài.



TIẾP ĐẾN, ĐỜN BÀ MUỐN CÓ TIỀN, THÌ PHẢI HƯ.

Sống trên đời, ai mà chẳng muốn có được nhiều tiền. Nhưng để thực hiện ước muốn…hoành tráng này, nhiều người đã cố gắng phấn đấu để vươn lên. Và họ trở thành những người tốt lành, cũng như đã giúp ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, cũng có những kẻ đã rơi tõm xuống vực thẳm tội lỗi và đã hư đi. Ở đây, gã chỉ xin bàn đến phe đờn bà con gái đã hư đi vì muốn có nhiều tiền một cách dễ dàng mà thôi. Gã xin tạm chia thành hai loại.

Loại thứ nhất là vì hoàn cảnh.

Họ có thể là những cô gái nông thôn, muốn thoát khỏi cảnh nghèo túng của miền quê bằng cách lên thành phố tìm việc làm, vừa để đổi đời, vừa để kiếm tiền giúp đỡ gia đình, nhưng rồi bị lừa gạt. Lúc đầu chỉ là phụ giúp bán cà phê, rồi bị ép bán cà phê ôm và sau cùng là bán tất cả cái vốn mình tự có.

Họ có thể là những sinh viên nghèo, nhưng lại muốn theo đuổi việc học, vì thế ngoài những giờ đến trường hay lên lớp, họ phải tìm việc làm để kiếm thêm chút tiền còm, bù lỗ cho những chi phí của mình.

Những việc làm thêm này, chẳng hạn như dạy kèm cho trẻ, bán hàng tại cửa tiệm, rửa chén bát cho các nhà hàng…lắm lúc thật vất vả mà lương bổng, thù lao lại chẳng bao nhiêu.

Vì thế, có những cô đã vào làm trong quán cà phê đèn mờ, những vũ trường hay cam phận với kiếp sống tầm gửi, làm vợ hờ, làm bồ nhi…Sở dĩ như vậy, vì những dịch vụ này thu nhập vừa cao, lại vừa nhàn hạ. Và rồi từ đó bị trượt chân, như viên bi lăn mãi lăn hoài cho tới tận cùng con dốc mới thôi. Gã xin đưa ra một vài chứng từ sống động cho vấn đề này.

Để có tiền trang trải cho chuyện ăn, chuyện ở và chuyện học, Hằng quyết định làm thêm công việc tiếp thị bia vào ban đêm tại một quán nhậu. Vơi thân hình khá bắt mắt của một cô gái đương thì, cộng với tính tình nhanh nhẹn vui vẻ, Hằng nhanh chóng được lòng rất nhiều anh lẫn…”ông” nhậu lui tới quán.

Trong số những khách hàng thường xuyên uống bia ủng hộ cô, có Khánh, một dược sĩ 32 tuổi, chủ nhân tiệm thuốc tây tọa lạc gần nơi Hằng tiếp thị bán bia mỗi đêm. Sau vài lần gặp gỡ, trò chuyện, Hằng bằng lòng cho chàng dược sĩ này đưa đón, đi ăn uống và về nhà trọ khi hết giờ làm việc ở quán nhậu.

Chỉ sau một tháng đưa đón, Hằng đã sẵn sàng ngã vào vòng tay của chàng dược sĩ, mà cô nghĩ có thể bao bọc được cho mình trong những tháng ngày ăn học khó khăn. Đúng như Hằng nghĩ, để tiện bề lui tới, Khánh thuê hẳn cho Hằng một căn nhà nhỏ trong hẻm…

Tuy nhiên, sự cung phụng của Khánh dành cho Hằng chỉ được một năm thì người thứ ba xuất hiện. Đó là một ông nhà thầu xây dựng, cũng là bạn nhậu của Khánh. Ông nhà thầu 42 tuổi này đã có vợ con đề huề. Sau vài lần gặp Hằng, ông đâm ra “kết” cô.

Sau đó không lâu, đã diễn ra một thỏa thuận rành mạch giữa ba người : Ông nhà thầu bỏ tiền ra cho Hằng mướn nhà trọ và ăn học. Anh chàng dược sĩ cung phụng cho cô mua sắm. Phần cô sinh viên Hằng tự chia lịch : 2-4-6 dành “tiếp ông thầu”, còn 3-7-5 thì” đi chơi” cùng anh dược sĩ. Chủ nhật là ngày cô được tự do…(Báo Phụ nữ Chủ nhật, số 7 ra ngày 19.2.2006).

Loại thứ hai là vì đua đòi

Có những cô gái, đua đòi cách ăn chơi của bè bạn, chạy theo những mốt áo quần hàng hiệu, theo kiểu bóc ngắn cắn dài, vung tay quá trán, con nhà lính tính nhà quan…vì thiếu tiền chi ra, nên sẵn sàng chấp nhận thân phận làm bồ nhí, làm gái bao…

Thanh xuất thân trong một gia đình khá giả. Thi đậu đại học. Bất chấp lời khuyên của những người thân, Thanh dọn ra ở riêng trong một căn phòng cho thuê khá tiện nghi. Không có sự kiểm soát của người thân, Thanh tự do bay nhảy, đàn đúm.

Để có tiền ăn chơi, thanh không ngần ngại cặp bồ với nhiều người đàn ông lớn tuổi nhưng có tiền. Trong số các “đại gia” ấy, Thanh chọn ông Phát đã có vợ con, nhưng lại là ông chủ cửa hàng kinh doanh xe gắn máy làm “bến đậu lâu dài” vì mọi chi phí thuê nhà, sắm sửa đều được ông Phát chu cấp hậu hĩ. (Báo Phụ nữ Chủ nhật, số 7, ra ngày 19.2.2006).

Có những cô gái khác vì cám dỗ của đồng tiền, hay vì một cuộc sống buông thả, sẵn sàng đánh đổi cả thân xác và không ngần ngại kinh doanh bằng cái vốn tự có, bằng cái vẻ tươi mát trời cho.

Lúc ban đầu, có thể chỉ lâu mới nhảy dù, tiếp khách một lần để có phương tiện tiếp tục nếp sống chơi bời quậy phá của mình. Nhưng rồi thấy việc kiếm tiền bằng phương cách này quá dễ dàng, nên bỗng trở thành chuyên nghiệp lúc nào không hay.

Và khi hàng đã quá đát, thì chỉ còn nước đứng ra ngoài vỉa hè và trở thành một loại bướm đêm, mà thiên hạ vốn thường thấy bay lượn dọc theo những quãng đường vắng hay tại những công viên, khi thành phố đã lên đèn.

Và cuối cùng, đờn ông cũng như đờn bà, tất cả đều phải cúi đầu lãnh nhận một kết thúc đáng buồn !!!

Gã Siêu