Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2010

vo tong

Vo tong giet ho tren doi canh duong

Tuy quyen vo tong danh Tuong mon than

Vo tong giet sat thu

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Văn hóa chụp giựt

Văn hoá Việt Nam hiện nay, theo tôi, là một thứ văn hoá chụp giựt.

Trong tiếng Việt, chữ chụp giựt thật hay. Trong hai từ tố, chụp và giựt, giựt quan trọng hơn, đóng vai trò trung tâm. Chụp giựt giống giựt (hay giật) ở chỗ: giằng lấy cái gì đó từ trong tay người khác một cách chóng vánh và mạnh mẽ. Nhưng ngoài hai sắc thái chóng vánh và mạnh mẽ, có khi một cách thô bạo ấy, chụp giựt còn hai sắc thái khác mà chữ giựt đứng một mình không có: sự tham lam và nhếch nhác. Tham lam? Thì cũng dễ hiểu: trong chụp giựt có hàm ý giành giựt. Nhưng còn nhếch nhác? Tôi nghĩ sắc thái nhếch nhác ấy chủ yếu xuất phát từ chữ chụp. Chụp thường chỉ động tác từ trên xuống dưới. Điều đó có nghĩa là vật thể được/bị chụp giựt phần lớn nằm dưới thấp. Từ thấp về vị trí đến thấp về giá trị: Điều người ta chụp giựt thường là những món lợi nho nhỏ. Đây là sự khác biệt giữa hai chữ giành giựt và chụp giựt: Trong chữ chụp giựt có chút gì như bỉ thử. Bởi vậy, trong khi chụp hay giựt chỉ là những động tác, thuần tuý là những động tác, chụp giựt lại là một động tác mang ý nghĩa đạo đức. Bao giờ nó cũng xuất phát từ một động cơ mang tính cá nhân, ít nhiều chà đạp lên những nguyên tắc cơ bản về sự công bằng và tinh thần tập thể.

Cần lưu ý: giựt là biến âm của giật. Nhưng người ta thường nói chụp giựt chứ ít nói chụp giật. Điều này cho thấy gốc gác của chụp giựt có lẽ xuất phát từ miền Nam. Trong các cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản ở miền Bắc, từ cuốn của Văn Tân đến cuốn của Hoàng Phê đều không có chụp giựt hay chụp giật. Chỉ có Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị xuất bản tại Sài Gòn năm 1967 mới có. Có, nhưng có lẽ lúc ấy chữ chụp giựt chưa phổ biến lắm nên nó mới vắng mặt ngay trong một cuốn từ điển được soạn một cách rất công phu và đầy đủ như cuốn của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ.

Xuất phát từ miền Nam nhưng chữ chụp giựt chỉ trở thành thông dụng những năm gần đây. Không những thông dụng, theo tôi, nó còn rất tiêu biểu: nó phản ánh được một cách sống, cách ứng xử và cách suy nghĩ của đa số người Việt Nam. Nó trở thành một thứ văn hoá: văn hoá chụp giựt.

Thấy rõ nhất là trong cách làm ăn buôn bán. Làm ăn mà không nghĩ đến những cái lợi lâu dài, không cần xây dựng và bảo vệ uy tín là một thứ văn hoá kinh doanh chụp giựt. Nói thách để lừa những người nhẹ dạ, bán hàng giả để lừa những người khờ khạo, dùng ngay cả những hoá chất mang nhiều độc tố chết người để chế biến thực phẩm miễn kiếm lợi ngay tức khắc là những kiểu làm ăn chụp giựt.

Trong chính trị cũng có những kiểu chụp giựt tương tự. Khi các chính sách không gắn liền với chiến lược lâu dài, chỉ nhắm mục đích củng cố quyền lực và mang lại lợi nhuận tức thời cho bản thân mình là chụp giựt.

Giáo dục cũng chụp giựt. Dạy mà bất cần chất lượng, chỉ chăm chăm chạy theo các chỉ tiêu hình thức chủ nghĩa do cấp trên đặt ra; học mà không cần kiến thức hay kỹ năng, chỉ cần có bằng cấp là những sự chụp giựt. Quản lý giáo dục theo lợi nhuận, tự bản chất, cũng là chụp giựt.

Về phương diện xã hội, ở đâu cũng thấy cảnh chụp giựt. Người này lừa người nọ; mọi người chèn ép nhau bất cứ khi nào có thể.

Nhưng thảm hại và nguy hiểm nhất là chụp giựt về phương diện văn hoá, ngay cả trong văn học nghệ thuật. Để ý mà xem, từ một hai thập niên trở lại đây, ở Việt Nam càng ngày càng hiếm những công trình nghiên cứu công phu và có chiều sâu.

Hầu hết các cuốn sách gọi là nghiên cứu, phê bình, tiểu luận đều hình thành từ sự tập hợp những bài báo ngăn ngắn, nho nhỏ viết cho các tờ báo ngày: Mỗi cuốn sách như một mẹt hàng xén tạp nham và dễ dãi. Nhiều nhất là các tuyển tập kiểu cuộc đời và tác phẩm hay tác phẩm và dư luận, ở đó, những người gọi là biên tập chỉ làm mỗi một việc là gom góp một cách cẩu thả các bài báo rải rác khắp nơi lại thành một cuốn sách. Những người tương đối có tài và có tiếng hơn một chút thì xé lẻ các tác phẩm của mình thành nhiều cuốn sách khác nhau; mỗi cuốn sách là sự lặp lại một phần, có khi là phần lớn, từ các cuốn sách khác. Bởi vậy có người khoe khoang là có nhiều đầu sách nhưng tác phẩm họ thực sự viết lại rất ít.

Viết ít và viết dối nhưng người ta lại bỏ thật nhiều công sức cho khâu quảng cáo và tiếp thị. Thành ra nhiều cuốn sách gây dư luận thật ồn ào nhưng chất lượng thì lại cực kỳ mỏng manh, không có chút giá trị khám phá gì cả.

Tại sao văn hoá chụp giựt lại phổ biến ở khắp nơi như vậy? Tại sao, mặc dù chữ chụp giựt đã có từ lâu, ít nhất là từ thập niên1960 ở miền Nam, và mặc dù hiện tượng chụp giựt có lẽ thời nào cũng có, kể cả thời xa xưa, bây giờ chụp giựt mới trở thành yếu tố thống lĩnh trong văn hoá và triết lý sống của người Việt? Điều kiện chính trị xã hội nào làm cho văn hoá chụp giựt nẩy nở nhanh chóng như vậy?

Theo tôi, có lẽ có ba nguyên nhân chính: tính chất chuyển tiếp từ kinh tế xã hội chủ nghĩa sang kinh tế thị trường; tình trạng thiếu kỷ cương và sự thiếu niềm tin vào tương lai.

Sự chuyển tiếp từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác tạo ra những kẽ hở, ở đó, cơ hội mang lại lợi nhuận không nằm ở tài năng, sự tháo vát hay cần cù mà chủ yếu ở điều kiện chính trị và xã hội: chức vụ càng lớn thì kiếm tiền càng dễ, quyền lực càng nhiều thì lại càng giàu có. Ngoài ra, vì xã hội thiếu kỷ cương, từ luật pháp đến đạo đức, nên người ta mới càng dễ chụp giựt. Lại thiếu niềm tin vào tương lai nên ai cũng hối hả chụp giựt. Chụp giựt được chút nào hay chút ấy. Tương lai xa ư? Mặc kệ. Miễn là có lợi ngay bây giờ. Ngay lúc này. Trước mắt.

Người Việt Nam thường chưa bao giờ nổi tiếng về tính nghĩ xa. Với văn hoá chụp giựt, cái tính nghĩ xa ấy lại càng trở thành xa vời hơn nữa.

Trong ít nhất hơn một thập niên vừa qua, nhiều trường đại học tại Úc thường cấp học bổng cho các cán bộ giảng dạy tại Việt Nam sang du học. Thường là học bổng bán phần, tức là chỉ miễn học phí còn mọi sinh hoạt khác thì tự lo liệu lấy. Nhưng như thế cũng đã là nhiều. Tiền học của cấp hậu đại học ít nhất cũng mười mấy, hai chục ngàn đô-la một năm. Như vậy 2 năm cho chương trình Thạc sĩ là khoảng từ 30 đến 40 ngàn; 3 hay 4 năm cho chương trình Tiến sĩ là khoảng từ 50 đến 80 ngàn. Đâu phải ít? Vậy mà, theo kinh nghiệm của tôi, rất nhiều người từ chối. Lý do? Một số người nói với tôi, đại khái: “Ví dụ, qua Úc du học trong vòng 4 năm để lấy được bằng Tiến sĩ, tuy được miễn tiền học, nhưng phải tốn tiến ăn ở ít nhất 5,7 chục ngàn đô. Nếu chịu khó đi làm bán thời thì cũng tạm xoay xở được. Trong khi đó, nếu ở lại Việt Nam, học bậy bạ ở đâu đó, sau bốn năm, người ta cũng có thể lấy được một cái bằng nội địa, bên cạnh đó, người ta vẫn có thể làm việc, dạy học và đầu tư, có thể kiếm được cả mấy chục ngàn đô-la một năm. Đằng nào lợi hơn?”

Dĩ nhiên làm như thế là lợi hơn. Về kinh tế. Nhưng về chất lượng giáo dục thì sao? Và sự nghiệp nghiên cứu về lâu về dài nữa? Đối với những vấn đề ấy, hầu như ai cũng biết. Chẳng cần gì phải bàn cãi cả. Biết, nhưng từ từ... tính sau. Trước mắt, là làm sao có cái nhà thật đẹp. Vậy thôi.

Tôi cũng xin nói thêm: Tôi chỉ nêu lên sự kiện nhưng không hề chê trách các bạn đồng nghiệp ấy. Họ tính toán như vậy cũng phải. Cuộc sống như thế, họ phải chọn lựa những gì tốt nhất cho họ và gia đình của họ. Họ phải chụp giựt. Dù sao, cách chụp giựt của họ cũng là cách chụp giựt lương thiện nhất. So với tất cả các hình thức nhan nhản khác trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: khi mọi người, kể cả giới trí thức lương thiện, đều chụp giựt như vậy, tương lai của đất nước chắc là mù mịt lắm.

Ăn với bạn Tây, thật ngại

Không biết các bạn thì như thế nào chứ tôi, mặc dù sống ở ngoại quốc khá lâu và có bạn người ngoại quốc cũng không ít, nhưng tôi lại rất ngại rủ bạn bè ngoại quốc đi ăn, nhất là ăn thức ăn Việt Nam.

Nghe, dễ tưởng là kỳ quặc. Muốn giới thiệu văn hoá Việt Nam thì còn gì hay cho bằng giới thiệu văn hoá ẩm thực của dân tộc?

Nghĩ lại xem, đối với phần lớn người ngoại quốc, Việt Nam có gì khác ngoài chiến tranh và ăn uống?

Ngày xưa, thỉnh thoảng người ta còn nhắc đến áo dài. Nhưng vị trí của áo dài càng lúc càng lu mờ. Lu mờ ngay ở Việt Nam: Càng ngày càng ít người mặc, trừ nữ sinh ở các trường trung học. Càng lu mờ ở hải ngoại: Ở xứ lạnh, hầu hết phụ nữ Việt Nam đều ngại mặc áo dài, trừ phi đi lễ ở nhà thờ vào các mùa nắng ấm.

Nhưng ở Tây phương, thành thực mà nói, chiếc áo dài hình như cũng không phát huy hết sở trường của chúng: Cần mỏng và cần gió để, một mặt, phô bày các nét cong của thân thể và sắc trắng mịn của làn da; mặt khác, để tà áo có thể bay phơ phất hầu làm tăng vẻ thướt tha của người mặc nó.

Mất chiếc áo dài, văn hoá Việt Nam chỉ còn một hiện thân ở các món ăn, đặc biệt là phở. Phở đi vào nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Phở không cần được dịch. Các tiệm phở chỉ cần ghi chữ Phở là người ngoại quốc sẽ nhận ra ngay tức khắc.

Tuy vậy, tôi vẫn ngại ăn chung thức ăn Việt Nam với người ngoại quốc.

Ngại, chủ yếu vì những đặc trưng của các món ăn Việt Nam. Tôi có cảm tưởng muốn thưởng thức hết cái ngon của thức ăn Việt Nam, cần mời người ngoại quốc, nhất là người Tây phương,…đi chỗ khác chơi.

Này nhé, nhiều học giả chuyên về ẩm thực của Việt Nam đã nêu lên nhận xét này: Điểm đặc biệt dễ nhận thấy nhất là người Việt Nam không chỉ thưởng thức món ăn bằng vị giác mà còn thưởng thức bằng cả năm giác quan. Đúng hơn bốn giác quan: Trừ xúc giác. Chúng ta dùng đũa chứ không dùng tay; rất hiếm khi dùng tay, trừ trường hợp ăn các loại bánh tráng cuốn.

Trước hết là vai trò của vị giác.

Một món ăn ngon phải là một món ăn ngon miệng. Cái lưỡi sẽ là giám khảo đầu tiên. Đó là chuyện dĩ nhiên và là điểm chung của tất cả mọi dân tộc. Người Việt Nam cũng thế. Việc cho thêm gia vị này nọ vào thức ăn là để đáp ứng nhu cầu này. Trong một tô phở hay tô hủ tiếu, chẳng hạn, đã có chút mặn của muối, chút ngọt ngào của đường hay bột ngọt, lại cần có chút cay của tiêu, của ớt, và chút chua chua của chanh nữa thì mới trọn vẹn.

Sau nữa là vai trò của thị giác.

Ngoài việc ngon miệng, thức ăn phải nhìn sao cho bắt mắt nữa. Trong chén nước mắm pha sóng sánh vàng phải thêm những xác ớt đỏ tươi thì mới thấy ngon. Thay ớt đỏ bằng ớt xanh, cho dù độ cay như nhau, chén nước mắm coi như bỏ. Trong tô mì màu vàng nhạt bao giờ cũng có chút hành, ngò màu xanh nằm bên cạnh miếng bánh tôm màu nâu sậm và những miếng thịt heo thái thật mỏng màu trắng, tất cả tạo thành một sự hài hoà về màu sắc.

Ngay cả việc bày một đĩa thịt gà trong bữa ăn cũng lắm công phu. Thường thì người ta bày ngửa miếng thịt lên một đĩa, da gà ở dưới, thịt xương ở trên, sau đó, người ta lại lật úp sang một dĩa khác để phần da gà nổi lên trên, rực lên màu vàng ruộm rất đẹp mắt. Sau đó, người ta sẽ rắc một tí ngò xanh lên và cuối cùng, đặt một trái ớt đỏ ngay chính giữa, làm thành một tác phẩm tuyệt đẹp.

Ở các tiệm sang hay ở các bữa tiệc cầu kỳ, người ta còn bày đủ trò trang trí: Trái ớt thay vì được đâm cho nát thì lại được chẻ và bẻ ra thành nhiều cánh trông như một đoá hoa đỏ rực. Củ cà rốt hay quả dưa leo được cắt, gọt và trình bày lúc thì như hoa lúc thì như chim đang sải cánh bay.

Đặc biệt hơn nữa là vai trò của khứu giác. Nhà văn Võ Phiến có một nhận xét tinh tế:

“Những người Việt Nam sành ăn đều ăn bằng... mùi. Đối với nhiều dân tộc khác, rau chỉ là rau. Đối với chúng ta có cả một thứ rau gọi là ‘rau thơm’, rau mùi. Mớ rau thông thường của thiên hạ đi vội vàng vào bao tử, bất quá chỉ cần đáp ứng một vài đòi hỏi của vị giác, công dụng chính của nó là công dụng bồi bổ sinh lí, là nhằm một ích lợi thực tiễn.”

“Rau mùi không phải là thứ rau cho bao tử, mà là cho lỗ mũi, cho cái khứu giác tinh vi của một dân tộc không phàm phu, một dân tộc nhằm ‘hưởng’ hơn là ăn. Rau mùi không làm ai no ruột thêm chút nào, nó chỉ có công dụng nghệ thuật mà thôi. […]”

“Trong một dĩa rau thơm, mùi nọ lẫn với mùi kia, tôn nhau lên, chế hoá nhau: Đó là một cuộc hoà tấu, một bản nhạc mùi.” (Võ Phiến, Tuỳ bút, nxb Văn Nghệ, California, 1986, tr. 82).

Trọng cái mùi, hầu hết các món ăn của người Việt đều được ăn nóng. Trên bàn ăn của người Việt thường có khói toả nghi ngút. Ở đây, khói chỉ là hiện tượng. Bản chất của vấn đề là ở cái mùi. Chức năng của khói là đưa mùi bay cao và bay xa. Ngày xưa, những người sành ăn, khi đối diện với tô phở vừa mang từ bếp ra, công việc đầu tiên của họ là áp mũi lên trên tô phở để hít hà cái mùi đặc biệt của phở. Chỉ từ cái mùi, người ta có thể sơ bộ đánh giá được là phở ngon hay là dở.

Trọng cái mùi, người Việt Nam đi đâu cũng mang cái…mùi đi theo. Ở ngoại quốc, muốn tìm nhà đồng hương ư? Dễ lắm. Cứ dòm vào vườn sau của họ: Thế nào cũng có vài cây ớt hay vài dãy hành, ngò, húng, rau răm, v.v… Đến gần cửa, cứ nghếch mũi lên hít hà vài cái: Thế nào cũng nhận ra mùi nước mắm, mùi hành, tỏi phi, v.v…

Nhưng đặc thù nhất là người Việt Nam còn thưởng thức món ăn bằng…thính giác.

Nhiều món ăn Việt Nam sẽ không thể ngon được nếu nó không kêu vang lên. Ăn bánh tráng nướng hay bánh phồng tôm hay ngay cả miếng chả giò (nem) mà không nghe tiếng xốp xốp sẽ không thấy ngon. Ăn cà muối mà không nghe tiếng nổ bụp trong miệng sẽ không thấy đã. Ăn phở hay hủ tiếu mà từ tốn quá, cứ nhai từng cọng thì cũng hết cả ngon.

Món ngon phải ồn. Đó mới chính là điều đáng ngại. Người ta ăn một cách nhỏ nhẻ, lặng lẽ, nhai không mở miệng mà mình thì cứ nhóp nhép ồn ào, thật kỳ. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà những món ăn người Việt Nam khoái khẩu nhất thường ăn ở nhà chứ không phải ở tiệm. Ở những nhà hàng lớn, càng sang trọng bao nhiêu, ăn uống càng rón rén bao nhiêu, càng mất hào hứng bấy nhiêu.

Ở nhà hàng lớn ấy, lại có mấy người bạn mũi lõ ngồi bên cạnh nữa thì lại càng chán.

Tiếng Việt: Đút vào / rút ra

Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ “đút” trong một câu văn không có gì đặc biệt: “Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần...” Từ chữ “đút” ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ “rút”: cả hai từ làm thành một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra).

Ðiều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: “-ÚT”. Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm “đ-” (đút) và một chữ bằng phụ âm “r- ” (rút).

Hơn nữa, cả từ “đút” lẫn từ “rút”, tuy phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển từ không gian này sang không gian khác. “Ðút” cái gì vào túi hay “rút” cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không gian ngoài túi hoặc ngược lại.

Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần “-ÚT” khác trong tiếng Việt và thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. “Hút” là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. “Mút” cũng là động tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác “hút” ở chỗ vật thể được “mút” thường là cái gì đặc. “Trút” là đổ cái gì xuống. “Vút” là bay từ dưới lên trên. “Cút” là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. “Nút” hay “gút” là cái gì chặn lại, phân làm hai không gian khác nhau. “Sút” là tuột, là suy, là giảm so với một điểm chuẩn nào đó.

Thay dấu sắc (ÚT) bằng dấu nặng (ỤT), ý nghĩa chung ở trên vẫn không thay đổi. “Trụt” hay “tụt” là di chuyển từ trên xuống dưới. “Vụt” là di chuyển thật nhanh, thường là theo chiều ngang. “Lụt” là nước dâng lên quá một giới hạn không gian nào đó. “Cụt” là bị cắt ngang, không cho phát triển trong không gian. “Ðụt” (mưa) là núp ở một không gian nào đó, nhỏ hơn, để tránh mưa ngoài trời. Vân vân.

Nếu những động từ có vần “-ÚT” thường ám chỉ việc di chuyển (hoặc việc ngăn chận quá trình di chuyển ấy) giữa hai không gian thì những động từ có vần “-UN” lại ám chỉ việc dồn ứ lại thành cục trong một không gian nhất định nào đó, thường là có giới hạn. “Ùn”, “chùn”, “dùn”, hay “đùn” đều có nghĩa như thế. “Thun” hay “chun” cũng như thế, đều chỉ cái gì bị rút, bị co. “Cùn” là bẹt ra. “Hùn” là góp lại. “Vun” là gom vào. “Lún” hay “lụn” là bẹp xuống. Cả những chữ như “lùn” hay (cụt) “lủn”, (ngắn) “ngủn”, “lũn cũn”... cũng đều ám chỉ cái gì bị dồn nhỏ hay thu ngắn lại.

Với cách phân tích như vậy, nếu đọc thật kỹ và thật chậm các cuốn từ điển tiếng Việt, chúng ta sẽ dễ thấy có khá nhiều khuôn vần hình như có một ý nghĩa chung.

Chẳng hạn, phần lớn các động từ hay tính từ kết thúc bằng âm ÉT hay ẸT đều chỉ những động tác hay những vật thể hẹp, thấp, phẳng. “Kẹt” là mắc vào giữa hai vật gì; “chẹt” là bị cái gì ép lại. “Dẹt” là mỏng và phẳng; “tẹt” là dẹp xuống (kiểu mũi tẹt); “bét” là nát, dí sát xuống đất; “đét” là gầy, mỏng và lép.

Những động từ kết thúc bằng âm EN thường chỉ các động tác đi qua một chỗ hẹp, một cách khó khăn, như: “chen”, “chẹn”, “chèn”, “len”, “men”, “nghẽn”, “nghẹn”, “nén”.
Những từ láy có khuôn vần ỨC – ÔI thì chỉ những trạng thái khó chịu, như “tức tối”, “bức bối”, “bực bội”, “nực nội”, “nhức nhối”, v.v...

Những ví dụ vừa nêu cho thấy hai điều quan trọng:

Thứ nhất, nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ phát hiện trong những chữ quen thuộc chúng ta thường sử dụng hàng ngày ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng. Tính chất bí ẩn ấy có thể nói là vô cùng vô tận, dẫu tìm kiếm cả đời cũng không hết được. Ðiều này khiến cho không ai có thể an tâm là mình am tường tiếng Việt. Ngay cả những nhà văn hay nhà thơ thuộc loại lừng lẫy nhất vẫn luôn luôn có cảm tưởng ngôn ngữ là một cái gì lạ lùng vô hạn.

Thứ hai, vì có những quy luật, những điểm chung tiềm tàng giữa các chữ như vậy cho nên việc học tiếng Việt không quá khó khăn. Nói chung, người Việt Nam đều có khả năng đoán được ý nghĩa của phần lớn các chữ mới lạ họ gặp lần đầu. Lần đầu gặp chữ “thun lủn”, chúng ta cũng hiểu ngay nó ám chỉ cái gì rất ngắn. Lý do là vì chúng ta liên tưởng ngay đến những chữ có vần “UN” vừa kể ở trên: cụt ngủn, ngắn ngủn, v.v... Lần đầu gặp chữ “dập dềnh”, chúng ta cũng có thể đoán là nó ám chỉ một cái gì trồi lên trụt xuống do sự liên tưởng đến những chữ có khuôn vần tương tự: bấp bênh, gập ghềnh, khấp khểnh, tập tễnh, v.v...

Học tiếng Việt, như vậy, không khó lắm, phải không?

Tiếng Việt: Bụng

Trong bài “Miếng ăn trong văn hóa Việt Nam”, tôi đã chứng minh miếng ăn là một ám ảnh lớn của người Việt Nam từ xưa đến nay. Chứng minh từ nhiều góc độ: huyền thoại, tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn học, từ văn học dân gian đến văn học viết; trong văn học viết, tập trung vào dòng văn học hiện thực (phê phán) và thể tùy bút.

Tương ứng với việc coi trọng miếng ăn là vai trò của cái bụng.

Nói đến cái bụng cũng đồng thời nói đến lòng, dạ và ruột. Những khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau, nhưng trong cách sử dụng của người Việt, bằng phép hoán dụ, chúng được xem như những từ đồng nghĩa.

Một nhận xét có tính khái quát đầu tiên cần nêu lên là: Đối với người Việt Nam, bụng chiếm tầm quan trọng đặc biệt trong thân thể. Quan trọng hơn óc, não. Và cũng quan trọng hơn cả tim.

Tầm quan trọng ấy có thể được nhìn thấy rõ nhất ở cách dùng các ẩn dụ.

Nếu trong tiếng Anh hay trong chữ Hán, chữ trái tim, chữ heart hay chữ tâm được mở rộng thành một cái gì chính, nằm giữa, như chữ heartland là khu vực chính, nằm giữa và quan trọng nhất trong một vùng nào đó, được dịch ra chữ Hán là khu trung tâm, thì trong tiếng Việt, để biểu thị một ý niệm tương tự, người ta lại dùng chữ lòng, một bộ phận của bụng. Phần giữa bàn tay: lòng bàn tay; phần giữa căn nhà: lòng căn; phần giữa cái chảo: lòng chảo; phần giữa dòng sông: lòng sông, phần giữa con đường: lòng đường, v.v...

Cũng liên quan đến khía cạnh ẩn dụ, chúng ta biết trong phần lớn các ngôn ngữ khác, từ tiếng Hoa đến tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, v.v..., người ta đều dùng hình ảnh trái tim để làm biểu tượng cho tâm hồn, cho tư tưởng và cho tình cảm. Tình yêu ở trong trái tim; niềm vui và nỗi buồn cũng ở cả trong trái tim. Sự chung thuỷ người ta để trong tim, tất cả những bí mật cũng đều được chôn kín trong trái tim.

Trong tiếng Việt thì ngược lại. Với chúng ta, trung tâm của tư tưởng và tình cảm là phần bụng, bao gồm bụng và bộ phận chính trong bụng là lòng.

Người khác nghĩ thầm trong đầu, chúng ta thì nghĩ thầm trong bụng. Trong các ngôn ngữ khác, một người thông minh là một kẻ có đầu óc nhạy bén, còn trong tiếng Việt, đó là một kẻ sáng dạ.

Tình yêu cũng như vui buồn hờn giận người khác giấu trong trái tim, còn chúng ta thì để bụng. Yêu nhau, chúng ta nói là “phải lòng nhau”. Giận nhau, chúng ta nói là “mất lòng nhau”. Một người tốt, trong tiếng Anh là kẻ có trái tim tốt, a kindhearted person, trong tiếng Việt, là kẻ tốt bụng.

Nhớ cái gì, đối với người nói tiếng Anh, là ấn sâu cái đó vào trong tim, là learn by heart, đối với người Trung Hoa, là làm cho nhập tâm, nhập vào trái tim, còn đối với người Việt Nam, là nhồi vào trong bụng, là nhớ thuộc lòng.

Chính vì thế, khi đi thi, để kiểm tra lại kiến thức của mình, Tú Xương đã không sờ lên đầu hay sờ lên tim mà là sờ vào bụng: “Tiễn chân cô mất ba đồng lẻ / Sờ bụng thầy không một chữ gì.” Cuối cùng, thi hỏng; thay vì than như người nói tiếng Anh là “tan nát cả trái tim”, là heart-broken, Tú Xương lại thấy đau trong bụng: “Bụng buồn còn biết nói năng chi / Đệ nhất buồn là cái hỏng thi.”

Vai trò của các chữ bụng, lòng, dạ và ruột cũng có thể thấy rõ trong cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Nhắc đến Truyện Kiều, người ta hay nói đến chữ tâm.

Nhưng xin lưu ý, trong 3254 câu thơ của Truyện Kiều, chữ tâm lại xuất hiện một cách hoạ hoằn. Chỉ có hai lần, trong hai câu thơ khác nhau. Một lần là “chữ tâm càng dập càng nồng” và một lần khác là “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Là hết.

Trong khi đó thì Nguyễn Du dùng chữ dạ đến sáu lần, từ “Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ” đến “Mấy lời ký chú đinh ninh / Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi”. Ngay câu nói phân bua về việc ghen tuông của Hoạn Thư, “Rằng tôi chút phận đàn bà” cũng có một số bản ghi là “Rằng tôi chút dạ đàn bà”.

Ngoài chữ dạ, trong Truyện Kiều còn có mười hai chữ ruột được dùng để chỉ tính tình và cảm xúc, chẳng hạn, “Tai nghe ruột rối bời bời” hay “Tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan”.

Nhưng trong Truyện Kiều, xuất hiện nhiều nhất là chữ lòng. Nó xuất hiện đến 165 lần khác nhau. Nào là “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, nào là “Lòng đâu sẵn mối thương tâm”, nào là “Đã lòng hiển hiện cho xem / Tạ lòng, nàng lại nối thêm vài lời”, v.v...

Nói cách khác, trung tâm trong Truyện Kiều là những lòng, dạ và ruột. Tức thuộc phần bụng. Cái bụng của Thuý Kiều.

Chứ không phải là trái tim (tâm).

Giới cầm quyền vui tính

Nghĩ đến giới cầm quyền Việt Nam, người ta thường nghĩ đến những người độc tài hoặc khá độc tài (tôi không tin là hiện nay lại có người dở hơi đến độ dám nói ngược lại, cho họ là những người tôn trọng dân chủ!). Nghĩ đến những người độc tài, người ta thường liên tưởng đến những bộ mặt đằng đằng sát khí hay ít nhất lầm lầm lì lì, mồm miệng chỉ được sử dụng để quát nạt chứ không biết cười đùa bao giờ.

Sự thực khác hẳn.

Xem mấy YouTube chiếu các buổi nói chuyện của Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nhà nước, chúng ta thấy ông rất hóm. Ông kể chuyện đại sự quốc gia như một gã say rượu vui tính ngồi ba hoa chích choè trong các quán bia ôm. Từ lời nói đến giọng nói và vẻ mặt đều toát ra vẻ gì rất hài hước. Và rõ ràng là ông muốn chia sẻ sự hài hước đó với thính giả đang ngồi há mồm ra nghe rồi vỗ tay rầm trời!

Mà đâu phải chỉ có mình ông Nguyễn Minh Triết?

Ngày 20 tháng 11, 2009, nói chuyện trước Quốc Hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một mặt, thừa nhận nạn tham nhũng đang tràn lan và việc ngăn chận nạn tham nhũng cơ hồ dậm chân tại chỗ; mặt khác, lại khoe là trong ba năm lên làm thủ tướng, ông chưa hề xử lý “đồng chí” nào, kể cả những “đồng chí” không thèm nghe lệnh của mình! Ông còn nói là sẽ “học theo đồng chí Phạm Văn Đồng”, người suốt mấy chục năm, chưa hề xử lý bất cứ một thuộc cấp sai phạm nào cả. Bọn tham nhũng, nghe vậy, tha hồ sướng!

Trong cuộc họp về chống tham nhũng trong ngành y tế tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 11, 2009, ông Lương Ngọc Khuê, cục phó Cục Quản lý khám chữa bệnh, cũng chứng tỏ là người rất vui tính khi tuyên bố: Nền y tế Việt Nam đã quá tốt! Tốt đến độ không có chuyên gia y tế nào trên thế giới có thể góp ý kiến gì được nữa cả!

Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y Tế cũng vui tính không kém khi quyết định trao giải thưởng “Top 100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng năm 2009” cho công ty bột ngọt Vedan mặc dù trước đó công ty này đã bị dư luận kịch liệt lên án về việc xả chất thải hoá học, gây ô nhiễm nặng nề dòng sông Thị Vải thuộc tỉnh Đồng Nai.

Nhưng giới lãnh đạo Việt Nam tỏ ra vui tính nhất là khi đưa ra nhiều chính sách có tầm quốc gia.


Ví dụ, vào tháng 9, 2009, Sở Nội vụ Hà Nội công bố “chiến lược” quan trọng là đến năm 2020, một trăm phần trăm cán bộ, công chức thuộc khối chính quyền thành phố có bằng tiến sĩ! Cán bộ, công chức thuộc khối chính quyền thành phố là những ai? Theo báo Vietnamnet.vn, hiện nay, họ có khoảng 500 người, “gồm thành viên Thường trực Thành ủy, Ban Thường vụ, Thành ủy viên, các trưởng, phó ngành; bí thư, phó bí thư quận, huyện, thị xã; chủ tịch, phó chủ tịch quận, huyện, thị xã”. Như vậy có nghĩa là đúng 10 năm nữa, không có chủ tịch hay phó chủ tịch quận, huyện nào tại Hà Nội không phải là tiến sĩ. Chắc chắn không nước nào trên thế giới có thể sánh được với Hà Nội ngàn năm văn vật của chúng ta cả!

Trong mấy năm qua, báo chí khắp nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại, từng đăng tải nhiều chính sách cười ra nước mắt khác. Nổi bật nhất là:

Thứ nhất, chủ trương hạn chế xe gắn máy tại Hà Nội bằng cách: (a) cấm xe có số đăng ký ở địa phương khác không được chạy vào Hà Nội; và (b) riêng ở Hà Nội, sẽ bảng số lẻ được chạy vào các ngày lẻ và xe có bảng số chẵn được chạy vào các ngày chẵn. Trái ngày thì bị phạt!

Thứ hai, tháng 10 năm 2008, chính phủ Việt Nam ra chỉ thị cấm những người nhỏ con, thấp và/hay ngực lép không được quyền lái xe máy trên 50 phân khối.

Cứ tưởng tượng, nếu chủ trương trên được thực hiện thì, một là, người dân ở các tỉnh khác mỗi làn vào Hà Nội, phải gửi xe gắn máy ở ngoại thành, rồi lết bộ vào thành phố; hai là, chính quyền sẽ tuyển thêm hàng chục ngàn viên chức mới với nhiệm vụ là hàng ngày họ đứng đứng hai bên đường dòm số xe và tính số xe nào chẵn, số xe nào lẻ để ghi giấy phạt.

Còn nếu chủ trương thứ hai được thực hiện thì cũng sẽ có hàng chục ngàn cảnh sát giao thông đổ ra ngoài đường, chận các xe gắn máy lại để đo chiều cao và đo vòng ngực của hàng triệu người lái xe gắn máy mỗi ngày.

Lúc ấy các bác sĩ thẩm mỹ chuyên về độn ngực tha hồ hốt bạc. Giới thanh niên đa tình thì nườm nượp kéo nhau xin vào ngành cảnh sát giao thông.

Còn cảnh tượng ngoài đường phố thì nhất định là ngày nào cũng vui như Tết!

Mới đây, chính quyền Hà Nội ra lệnh cấm dân chúng hôn nhau ở các địa điểm công cộng, đặc biệt tại vườn Bách Thảo. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều xem đó là một lệnh cấm “hài hước” mà nhà cầm quyền mới thêm vào trong cái bảng lệnh cấm hài hước vốn dài dằng dặc của họ.

Với những kiểu nói năng như thế, hành xử như thế, và chính sách như thế, không ai có thể phủ nhận sự vui tính của giới cầm quyền Việt Nam.

Vui tính như những thằng hề.

“Không ai có thể xoá”

Cuối năm 2007, chính phủ Trung Quốc quyết định nâng ba nhóm quần đảo thuộc Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa lên thành cấp huyện, trực thuộc tỉnh Hải Nam. Trong ba nhóm quần đảo ấy, Tây Sa và Nam Sa vốn là hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam.

Quyết định ấy đã làm dấy lên làn sóng công phẫn trong giới thanh niên và trí thức Việt Nam. Một cách tự phát, họ ào ạt xuống đường biểu tình chống lại âm mưu bành trướng của Bắc Kinh. Cuộc biểu tình lớn nhất là vào ngày 9 tháng 12 với sự tham dự của hàng mấy trăm người trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Lãnh sự quán Trung Quốc ở thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, cùng xuống đường biểu tình với các thanh niên sinh viên, có một số cây bút nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Viện, nhà thơ Thận Nhiên, nhà thơ Trần Tiến Dũng, đạo diễn Song Chi, nhà báo Thu Hồng, nhạc sĩ Tuấn Khanh, v.v…

Cuộc biểu tình, cuối cùng, đã bị chính quyền trấn áp. Một số người bị bắt. Một số người phải gánh chịu những đòn trả thù thô bạo, sau đó. Trong các tên tuổi văn nghệ sĩ kể trên, đạo diễn Song Chi đã phải xin tị nạn chính trị tại Na Uy.

Đã hơn hai năm trôi qua, ấn tượng của các cuộc biểu tình ấy vẫn còn đọng lại sâu đậm trong lòng nhiều người. Mà làm sao có thể quên được chứ? Nỗi nhục bị lấn chiếm còn đó, làm sao quên được? Nỗi nhục nhìn thấy chính quyền khiếp sợ trước ngoại bang, làm sao quên được? Nỗi cay đắng khi nhìn thấy những người yêu nước, muốn bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ lại bị chính chính phủ của mình ra tay áp bức, làm sao quên được?

Nhưng nhớ lại không phải chỉ vì cảm giác nhục nhã hay cay đắng. Nhớ lại còn vì sự tin tưởng mãnh liệt, nói như Trần Tiến Dũng, trong bài thơ mà ông muốn chia sẻ trước hết, với độc giả của blog này, thứ nhất, “cọc nhọn hiểm ác không thể kéo thấp đỉnh hy vọng” và, thứ hai, “quảng trường đó chỗ đứng đó không ai có thể xoá”.

Vâng, nhất định không ai có thể xoá được.

NHQ

Đi đến điểm cuối của tất cả các tháng mười hai

Kính tặng những gương mặt của ngày 9-12-2007

Đi đến điểm cuối tháng mười hai
phía trước là biển
vách san hô
con đường sóng
bầy hải âu dính lưới giữa trời
hoa máu trôi dài theo luồng cá

Đây, đất nước thân yêu!
biển trống hoác
súng từ phương bắc nổ ra như tiếng cười
người ở đây
những người đi xa
tôi nhìn thấy những gương mặt tuyệt vọng
trước cửa nhà
nơi bầy ruồi bu kín xác chiếc tàu

Tôi sẽ đi đến điểm cuối tháng mười hai này
giữa lằn ranh của hơi thở và nước
tháng mười hai cũ trở lại thật xanh
gió Hà Nội-Sài Gòn hỏi: “Nhớ không?”
cọc nhọn ác hiểm không thể kéo thấp đỉnh hy vọng

Và những bàn tay ở quảng trường biểu tình ngày cũ
mỗi người từ nơi ấy đã là con tàu
đoá hoa xanh vẫn lái tàu giữa những con chim thuỷ thủ
kim la bàn chỉ theo hướng mắt thanh niên
màu xanh đang ngày ngày được rửa
từng cánh chim rơi xuống nơi mặt trời sẽ mọc
sáng đất nước bài ca từ đôi môi mặn nước mắt

Với gió ! Tôi sẽ nói
quảng trường đó chỗ đứng đó không ai có thể xoá
luôn luôn những cây kim la bàn ánh bạc
tin theo hướng mắt thanh niên
những bàn tay yêu biển loé sáng trên nền xanh bất tận
tiếng chim thời gian vô hạn hót bên tai
biển là cửa của dân tộc tôi nhìn ra thế giới
thế giới có thể thay đổi
nhưng mãi mãi
từ cửa này, biển là tổ quốc tôi

Ngay cả khi tuyệt vọng với quyền phát ngôn
rừng bất hạnh và núi khát vọng
cả khi bàn tay chúng ta chỉ còn biết ôm lấy đầu
vẫn lấp lánh ánh kim la bàn và loa tay vang vọng
vách san hô đó
con đường sóng biển đó
quảng trường biểu tình cũ bừng hơi thở và nước
đi đến điểm cuối của tất cả các tháng mười hai
trên biển gương từ võng mạc mỗi người
vẫn là đây-đất nước thân yêu !
mở hết với trời xanh
đi hết những ngày rất tối

Trần Tiến Dũng

Bản đồ từ vựng trên cơ thể

Sẵn nói chuyện bụng lần trước, chúng ta thử nhìn sang các từ chỉ các bộ phận trên cơ thể trong tiếng Việt xem sao.

Liên quan đến đề tài này, từ lâu, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra đặc điểm này: nhìn chung, các bộ phận bên ngoài phần lớn đều là từ thuần Việt: tóc, tai, trán, miệng, cằm, vai, ngực, ức, bụng, v.v...; trong khi đó, các bộ phận bên trong lại thường là các từ Hán Việt: tuỷ, não, tâm, can, mật, tiểu trường, đại trường, v.v...

Nói chung là thế. Tuy nhiên, ở từng vùng cụ thể, sự phân bố cũng như tỉ lệ và chức năng giữa hai lớp từ vựng ấy khác hẳn nhau.

Ví dụ ở vùng mặt, không khó để nhận ra, thứ nhất, số lượng từ Hán Việt tương đối ít; thứ hai, phần lớn gắn liền với khoa tướng số: thái dương, lưỡng quyền và nhân trung. Tả khuôn mặt một cô gái đang yêu, chúng ta dùng chữ “gò má”: “gò má đỏ au...”; nhưng khi muốn nhấn mạnh đến tính khí hay số mệnh của cô gái ấy, chúng ta lại dùng chữ “lưỡng quyền”, chủ yếu tập trung vào một đặc điểm chính: cao hay thấp.

Ở tứ chi cũng thế. Từ Hán Việt chỉ xuất hiện với khoa tướng số: gò Mộc Tinh, gò Thổ Tinh, gò Thái Dương… rồi Tâm đạo, Sinh đạo, Trí đạo, v.v… Còn lại, toàn bộ đều là các từ thuần Việt. Này nhé: vai, nách, cánh tay, bắp tay, khuỷu tay, cùi chỏ, cẳng tay, cổ tay, cườm tay, nắm tay, bàn tay, mu bàn tay, lòng bàn tay, chỉ tay, ngón tay, đốt ngón tay, lóng tay, móng tay, phao tay, dấu tay, v.v… Dưới chân thì: cẳng, giò, đùi, vế, đầu gối, khoèo (vùng phía sau đầu gối), ống quyển, bụng chân, cổ chân, bàn chân, gót chân, lòng bàn chân, gan bàn chân, ngón chân, v.v… Không có từ Hán Việt nào cả.

Ở phần ngực, ngược lại, hầu hết các từ bên trong lại là từ Hán Việt: tim (tâm), phổi (phế), mạch, động mạch, tĩnh mạch, tâm thất, tâm bì, v.v... Tất cả các thuật ngữ gốc Hán Việt này đều gắn liền với khoa giải phẫu học.

Điều này chứng tỏ có lẽ khi tiếp xúc với người Trung Hoa, ngành giải phẫu học và cùng với nó, trình độ khoa học của người Việt Nam tương đối thấp. Vì thấp hơn nên chúng ta chưa có tên gọi các bộ phận bên trong lồng ngực của con người. Và vì chưa có cho nên chúng ta mới phải vay mượn từ chữ Hán.

Điều này không những đúng đối với phần ngực mà còn đúng cả với hầu hết các bộ phận khác trong cơ thể. Sọ là từ thuần Việt nhưng cái phía bên trong sọ là tuỷ thì lại là từ Hán Việt. Da là từ thuần Việt nhưng gân, do chữ cân mà ra, lại là từ Hán Việt. Thịt là từ thuần Việt nhưng bộ phận nhỏ của thịt là cơ, cơ bắp thì lại là từ Hán Việt.

Ở vùng hạ bộ hay âm bộ, tức bộ phận sinh dục, ngược lại, vừa có tên gọi bằng chữ thuần Việt vừa có tên gọi bằng chữ Hán Việt.

Trong phần lớn các trường hợp, đặc biệt hai từ chính chỉ bộ phận sinh dục của nam và nữ, người ta có khuynh hướng dùng từ Hán Việt: những chữ như dương vật, ngọc hành, và âm hộ đều có âm hưởng thanh tao hơn chữ c., cu, buồi, l., đồ (Nhớ câu tục ngữ: “Miệng nhà quan có gan có thép / Đồ kẻ khó vừa nhọ vừa thâm) và đách.

Nguyên tắc lựa chọn ở đây chủ yếu là nguyên tắc “đạo đức” hoặc ít nhất, lịch sự: tránh cảm giác sỗ sàng, thô tục, thậm chí, thô bỉ.

Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ giới hạn trong vài từ chính mà thôi. Trên thực tế, chữ “cửa mình” hay “dạ con” không hề gợi cảm giác tục tĩu hơn chữ “âm đạo” hay “tử cung”. Trong cả văn viết lẫn văn nói, trừ một số trường hợp thật tế nhị, người ta thường dùng “hòn dái” thay cho “tinh hoàn” hay “âm hành”, “đì” hay “bìu dái” thay cho “âm nang” hay “hạ nang”, “hột le”, “mồng đóc” hay “ghe” (Xem Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, 2000) thay cho “âm hạch” hay “âm vật”, v.v...

Hơn nữa, hình như người Việt Nam thường ở trong trạng thái phân vân: họ vừa muốn tránh cảm giác thô tục trong từ thuần Việt lại vừa muốn tránh cảm giác quá nghiêm túc trong từ Hán Việt bằng cách sử dụng các tiếng lóng: lô, bòi, chim, bướm, hĩm, húm, lá đa, cái “tỉnh tình tinh”, của quý, đồ nghề, v.v...

Có điều, những sự phân vân như thế thường chỉ xuất hiện trong giới có học.

Riêng giới lao động thì thường sử dụng các từ thuần Việt một cách thoải mái hơn, do đó, chúng ta có các từ ghép để chỉ một số vật thể hoặc vật dụng quen thuộc như: cặc bần (rễ cây bần, thường đâm ngược lên khỏi mặt đất), cặc khỉ (cốm thèo lèo làm bằng bột chiên trong dầu), cặc vịt (vật dùng khui rượu, “corkscrew”), cặc bò (thứ roi làm bằng dương vật bò phơi khô), lồn mèo (cái đầu hồi, nơi hai mái nhà giáp nhau), lồn trâu (cổ áo bà ba rộng mà thon), lồn xa (miếng gỗ xẻ một đầu dùng làm nơi gác con quay kéo vải), lồn lá tre (thứ lồn xa hẹp bề ngang), lồn lá vông (thứ lồn xa hình bầu), v.v... (Tất cả các chữ này đều có trong Việt Nam Tự Ðiển của Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ).

Thử tưởng tượng, một buổi đẹp trời, sau khi tái ngộ và chung sống với Thuý Vân, một hôm Thuý Kiều thỏ thẻ bảo Kim Trọng:

- Anh lấy giùm em cái áo đi.
- Cái áo nào vậy, em?
- Thì cái áo lồn trâu em thường mặc ở nhà đó.
- Em để đâu?
- Em vắt trên cái lồn xa đó.
- Anh không thấy.
- Thì anh xem ở cái lồn lá vông xem sao.
- Cũng không thấy.
- Sao lạ vậy? À, mà em nhớ rồi, hồi sáng em treo nó gần cái cặc bần. Anh chịu khó ra lấy đi.
- Anh xem rồi. Nhưng chỉ thấy cái cặc bò thôi.
Xin nhắc lại: Tất cả những từ ấy đều là những từ phổ thông trong dân gian. Và không hề bị xem là tục.

Nếu ở vùng ngực, hầu hết các bộ phận bên trong đều là từ Hán Việt và nếu ở vùng hạ bộ và âm bộ, hầu hết các bộ phận đều có tên gọi vừa bằng chữ thuần Việt vừa bằng chữ Hán Việt thì trong vùng bụng, số lượng các bộ phận có tên gọi thuần Việt và các bộ phận có tên gọi Hán Việt xem như ngang bằng nhau.

Thuần Việt thì có ruột, cật, bầu dục, ruột già, ruột non, lá lách, lá mía, bong bóng, dạ con, bọng đái, v.v... Hán Việt thì có thận, mật, gan, trường (hay tràng), tì, tuỵ, bàng quang, v.v...

Giữa hai lớp từ thuần Việt và từ Hán Việt trong vùng bụng, lớp từ thuần Việt rõ ràng là có mức độ phổ biến cao hơn hẳn. Trừ các từ mật và gan không có từ tiếng Việt tương đương để thay thế, hầu hết các từ khác đều có từ tiếng Việt tương đương và trong những trường hợp ấy, từ thuần Việt bao giờ cũng thông dụng hơn.

Chẳng hạn giữa chữ ruột và chữ trường. Trong ngôn ngữ hằng ngày, người Việt vẫn thường dùng và thích dùng chữ ruột hơn là chữ trường. Ngay chữ đoạn trường, vốn gắn liền với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, gần đây cũng có khuynh hướng bị chữ đứt ruột thay thế. Khi nói một nỗi đau đứt ruột hay một tiếng kêu đứt ruột, chúng ta có cảm giác là đỡ sáo cũ hơn là nói một nỗi đau đoạn trường hoặc một tiếng kêu đoạn trường. Chữ trường, khi đứng một mình, chỉ xuất hiện trong các món ăn, chủ yếu là món nhậu, như dồi trường, chẳng hạn.

Riêng chữ thận, gốc chữ Hán, chỉ phổ biến khi nói về thân thể con người từ khía cạnh y học; vượt ra ngoài khía cạnh y học, người ta hay dùng chữ quả cật thuần Việt: “no cơm ấm cật” hay “chung lưng đấu cật”. Khi nói về loài vật, chữ thận ấy hầu như hoàn toàn bị lép vế trước chữ quả cật và một chữ thuần Việt khác: quả bầu dục.

Nếu ưu thế áp đảo của lớp từ Hán Việt ở vùng ngực tiết lộ về trình độ giải phẫu học và khoa học của người Việt và nếu việc thịnh hành của lớp từ Hán Việt ở vùng hạ bộ cho thấy ý thức luân lý của người Việt thì mức độ phổ biến của lớp từ thuần Việt ở vùng bụng lại mang nhiều ý nghĩa về văn hoá. Nói một cách tóm tắt, trong văn hoá Việt Nam, vùng bụng có một tầm quan trọng rất đặc biệt.

Nói cách khác, trên bản đồ từ vựng trên cơ thể, chúng ta có thể đọc thấy được rất nhiều chuyện.

Rất, rất nhiều chuyện.

Tiếng Việt: Sự chuyển nghĩa của lớp từ chỉ các bộ phận cơ thể

Thứ Ba, 02 tháng 2 2010 Nguyễn Hưng Quốc
Chúng ta biết số lượng các từ chỉ các bộ phận trên cơ thể con người rất phong phú, bao gồm hai lớp từ thuần Việt và Hán Việt.

Đã phong phú, người Việt Nam lại ghép các từ ấy lại để thành các từ mới: đã có bụng, ruột, lòng, dạ và gan, chúng ta lại có các từ ghép: bụng dạ, lòng dạ, ruột gan; đã có mặt, mũi và mày, chúng ta lại có các từ ghép: mặt mày và mặt mũi; đã có tay và chân, chúng ta lại có chân tay và tay chân, v.v...

Lượng từ vựng chỉ các bộ phận trên cơ thể, do đó, tăng vọt. Và cấu trúc ý nghĩa của chúng cũng khá đa dạng. Có khi từ ghép được hình thành chỉ cốt cho thuận miệng. Nói tóc tai, nhưng thật ra, chỉ có “tóc” là quan trọng; còn “tai” chỉ là từ đệm. Có khi chúng hình thành như một sự tổng hợp: râu ria là râu và ria nói chung.

Nhưng trong phần lớn các trường hợp, ý nghĩa của các từ ghép đều vượt ra ngoài và vượt lên trên ý nghĩa của hai từ tố gốc. Chân tay là chân và tay nói chung, nhưng chân tay và tay chân thì không phải chỉ có tay và chân mà còn có... người: những kẻ thuộc hạ để sai khiến. Cũng vậy, tai mắt là thuộc hạ, nhưng chỉ giới hạn trong công tác rình rập, theo dõi, góp nhặt tin tức. Vai vế thành ra địa vị; máu mặt thành ra thế lực: có thể có những người tuy không có vai vế gì trong chính quyền nhưng lại là người có máu mặt trong địa phương.

Ngoài mối quan hệ gần xa với nghĩa gốc (bụng/ruột/gan), cả ba chữ bụng dạ, lòng dạ và ruột gan đều có những hướng phát triển riêng: trong khi chữ lòng dạ thiên về tính tình, thường mang chút màu sắc tiêu cực (“lòng dạ con người” hay “lòng dạ đàn bà”); chữ bụng dạ thiên về nhận thức (“Bận làm việc túi bụi, còn bụng dạ nào mà nói chuyện thơ văn!”); còn ruột gan thì lại thiên hẳn về khía cạnh tình cảm. Tâm tình tương đắc với nhau, người ta không phơi bày lòng dạ hay bụng dạ mà là phơi bày ruột gan cho nhau xem. Nói đến ruột gan là nói đến những gì sâu kín nhất, tha thiết nhất, chân thành nhất.

Mặt mày và mặt mũi đều có nghĩa là diện mạo; nhưng khác với mặt mày, chữ mặt mũi còn có nghĩa là thể diện, đặc biệt thường được dùng khi thể diện đã bị sứt mẻ khá nhiều và người ta không muốn nó bị tiêu huỷ hoàn toàn: “Sau khi bị án tù vì tội ăn trộm gà, ông ấy không còn mặt mũi nào mà về làng nữa.”

Cũng có yếu tố “máu” nhưng máu thịt lại khác với máu mủ hay ruột thịt. Máu thịt có ý nghĩa vừa hẹp hơn lại vừa rộng hơn các chữ kia. Hẹp hơn bởi vì nếu chỉ quan hệ thân tộc thì máu mủ và ruột thịt có thể chỉ cả quan hệ hàng ngang, giữa anh em, và rộng hơn, giữa họ hàng với nhau. Còn máu thịt thì chỉ giới hạn trong phạm vi hàng dọc, chỉ quan hệ giữa cha mẹ và con cái, với ý nghĩa xem con cái như là chính máu thịt của cha mẹ. Chữ máu thịt không mở rộng tới quan hệ họ hàng. Tuy nhiên, ở khía cạnh khác, chữ máu thịt lại có ý nghĩa rất rộng, không chỉ giới hạn trong quan hệ giữa người với người. Quan hệ máu thịt là thứ quan hệ gắn bó đến mức cực kỳ sâu sắc, không dễ gì phai nhạt được. Chúng ta có thể nói đến quan hệ máu thịt giữa mình với quê hương, với tiếng mẹ đẻ, hay với các tác phẩm do mình nắn nót viết ra.

Cả ba chữ miệng lưỡi, mồm miệng và mồm mép đều chỉ khả năng ăn nói, nhưng có lẽ chỉ có chữ miệng lưỡi là có ý nghĩa hoàn toàn tích cực: người miệng lưỡi là người vừa có tài diễn đạt vừa có khiếu biện luận. Ðó là kẻ không dễ gì bị lấn áp. Trong khi đó, hai chữ mồm miệng hay mồm mép hầu như chỉ tập trung vào khả năng ăn nói chứ không liên hệ gì đến khả năng biện luận. Người mồm miệng hay mồm mép có thể chỉ là người đa ngôn, người lém lỉnh chứ chưa chắc đã là người lý sự, thông minh hay uyên bác. Bởi vậy, chúng thường gắn liền với ý chê bai.

Gốc rễ của phần lớn những khác biệt giữa các chữ ngỡ như đồng nghĩa vừa nêu chủ yếu nằm ngay trong sắc thái ngữ nghĩa của các từ tố gốc. Ðã đành mồm cũng là miệng, nhưng người Việt Nam nào lại chả biết sắc thái biểu cảm của chữ mồm thường nghiêng về khía cạnh tiêu cực. Khen người yêu, người ta chỉ có thể nói: “Miệng em đẹp” chứ không ai lại nói: “Mồm em đẹp”. Không chừng vì mồm gần với mõm nên âm hao có phần kém thanh tao. Chửi nhau, để cho nặng lời, người ta không dùng chữ miệng mà dùng chữ mồm: cách nói “Vả vào mồm” bao giờ cũng dữ dằn hơn cách nói “Vả vào miệng”. Muốn cho dữ dằn hơn nữa, người ta thế chữ mồm bằng chữ mõm hay chữ mỏ: “Ðánh cho dập mõm”, “đánh cho phù mỏ” hay “đánh cho bể mồm...” là những cách nói rất thường nghe trong các cuộc đấu khẩu ở Việt Nam.

Như vậy, trước và trong quá trình chuyển nghĩa của các từ ghép, từng từ tố chỉ các bộ phận trên cơ thể cũng được chuyển nghĩa. Nhờ sự chuyển nghĩa này, các từ chỉ các bộ phận trên cơ thể trở thành những từ có sức “sinh sản” rất cao: từ thân thể con người, chúng được dùng để chỉ nhiều sự vật, hiện tượng hay đặc điểm khác nhau trong xã hội. Trong sự chuyển nghĩa ấy, thân thể con người tự nhiên trở thành trung tâm, thành trục quy chiếu để từ đó người ta định danh những sự vật khác hay những mối quan hệ giữa người và người, giữa người và vật.

Mũi con người có hình thù khá nhọn và là phần nhô ra phía trước ư? Vậy thì, những gì có đầu nhọn và nhô ra sẽ được gọi là “mũi”, từ đó, chúng ta không những có mũi dao, mũi kéo... mà còn có mũi thuyền, thậm chí, mũi Cà Mau và mũi tiến quân, v.v...

Ðầu con người có hình khối cầu, ở trên cùng, có chức năng suy nghĩ và điều khiển toàn thân thể ư? Vậy thì, chúng ta có, từ sự tương đồng về hình dạng: đầu gối, đầu đạn, đầu đập..; từ sự tương đồng về vị trí: đầu núi, đầu hồi, đầu xứ, đầu danh sách...; từ sự tương đồng về chức năng: đầu mục, đầu nậu, đầu sỏ, đầu têu, đầu trò, rồi đứng đầu, cầm đầu, dẫn đầu, đương đầu, đối đầu, v.v...

Cổ cũng thế. Nó thon, nhỏ, nối liền đầu và thân ư? Vậy thì, chúng ta có: cổ chai, cổ lọ, cổ chày.... Nó có chức năng giữ cái đầu mà cái đầu được xem là biểu tượng của trí tuệ ư? Vậy thì nó sẽ trở thành biểu tượng của ý chí và quyền lực, từ đó, chúng ta có: cứng cổ, cưỡi cổ, lôi cổ, siết cổ hay một cổ hai tròng, v.v..

Tay người có chức năng nắm giữ ư? Vậy thì tay trở thành từ chỉ sở hữu: tay trắng và tay không. Tay có chức năng hành động ư? Vậy thì nó trở thành từ chỉ sự thực hiện: ra tay, xuống tay, khéo tay, hoa tay, mát tay, non tay, nặng tay, nhẹ tay, nhúng tay, tay nghề, tay ngang... Tay là bộ phận phụ thuộc ư? Vậy thì chúng ta có: tay chân, tay sai, tay trong hay tay ngoài, v.v...

Bản đồ từ vựng trên cơ thể