Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Dẫn nhập tổng quát về Kinh Thánh

MẠC KHẢI VÀ SÁCH THÁNH

Ðể giúp độc giả, dù tin vào Thiên Chúa hay không, biết mình đang cầm cuốn sách nào trong tay và biết cách đọc và hiểu cuốn Sách Thánh, chúng tôi xin tóm tắt giáo huấn của Công Ðồng Va-ti-ca-nô II về Mặc Khải và Sách Thánh (Kinh Thánh), sau đó chúng tôi giới thiệu đại cương từng phần của Sách Thánh.

1. Ðâu là nguồn gốc của Sách Thánh?

"Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Người (x. Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2Pr 1,4). Trong việc mặc khải này, với tình thương chan chứa của Người, Thiên Chúa vô hình (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15) ngỏ lời với loài người như với bạn hữu. Người đối thoại với họ (x. Br 3,38) để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Người" (MK 2).

Thiên Chúa đã nói với loài người khi nào, qua ai?

"Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử (Giê-su)" (Dt 1,1-2).

Thiên Chúa đã nói cách đây hàng mấy chục thế kỷ, làm sao tôi có thể nghe được hôm nay?

"Thuở xưa" Lời Chúa phán dạy đã tạo thành một dân tộc được tuyển chọn để nghe và giữ lời Thiên Chúa. Lời ấy đã được lưu giữ trong giáo huấn, đời sống và phụng tự của Dân Thiên Chúa trong thời Cựu Ước và đã được ghi chép thành Sách Thánh, tức là sách Cựu Ước.

Còn lời Thiên Chúa đã phán qua Thánh Tử Giê-su đã được truyền lại cho chúng ta nhờ sứ vụ của các Tông Ðồ: "Hoặc qua lời giảng dạy, gương lành và các thể chế, các ngài đã truyền lại những gì đã nhận lãnh từ miệng Chúa Ki-tô, khi chung sống với Người và thấy Người hành động, hoặc đã học biết được nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng; một phần do chính các ngài và những người phụ tá các ngài đã viết lại Tin Mừng cứu rỗi dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh thần" (MK 7). Ðó là sách Tân Ước.

2. Làm sao biết được đây là Sách Thánh?

Hàng ngày trong khi cử hành phụng vụ, sau khi đọc Sách Thánh, người đọc hô lên: "Ðó là Lời Chúa", và toàn thể cộng đoàn đáp lại: "Tạ ơn Chúa." Ðó là một lời tuyên xưng đức tin. "Sách Thánh là Lời Chúa nói. Vì được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần" (MK 9). Như vậy thì chỉ có Thánh Thần mới có thể làm cho Hội Thánh nhận ra "đó là Lời Chúa".

Trong Hội Thánh, Chúa Giê-su đã trao cho các Tông Ðồ và các đấng kế vị quyền giáo huấn để "dạy người ta tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền" (x.Mt 28,20), và đã ban Thánh Thần cho các vị này để thi hành sứ mạng (x.Ga 20,21-22). Thánh Thần đã dùng các vị này để giúp cộng đoàn Hội Thánh dần dần xác định những sách nào là Sách Thánh. Vào thế kỷ IV Hội Thánh Công Giáo đã có những bản kê khai các sách được nhìn nhận là Sách Thánh: đó là quy điển, tức là những sách được Thánh Thần linh hứng và có giá trị để Hội Thánh quy chiếu vào đó mà biết những gì phải tin và những gì phải thực hành trong đời sống. Ngày nay Hội Thánh Công Giáo vẫn trân trọng tôn kính, giữ gìn và tuyên đọc Lời Chúa trong bộ Sách Thánh gồm phần Cựu Ước (46 cuốn ) và Tân Ước (27 cuốn).

3. Sách Thánh trong đời sống của Ki-tô hữu

"Hội Thánh luôn tôn kính Sách Thánh như chính Thân Thể Chúa. Nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Ki-tô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).

Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là hai cách hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh. Tin Mừng theo thánh Lu-ca gợi cho chúng ta điều ấy trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau: Họ thấy lòng mình bừng cháy khi Chúa Giê-su nói với họ và giải nghĩa Sách Thánh cho họ trên đường, và họ nhận ra Người khi Người "cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ" (x. Lc 24,13-32).

Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là của ăn thông ban và nuôi dưỡng sự sống đời đời nơi chúng ta. Trong Cựu Ước, khi dẫn dân Chúa đi trong hoang địa, Thiên Chúa nuôi họ bằng man-na và Lời Chúa: "Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra" (Ðnl 8,3). Trong thời của Giao Ước Mới này, Chúa Ki-tô Phục Sinh đồng hành với dân mới. Người nuôi chúng ta bằng Lời Chúa và bằng Mình Máu Thánh Người. - "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết" (Ga 8,51) - "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51).

"Hội Thánh luôn công bố Lời Chúa khi cử hành các bí tích và các giờ kinh phụng vụ, vì Sách Thánh phân phát cách bất di bất dịch Lời của chính Thiên Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các ngôn sứ cùng các Tôn g Ðồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Hội Thánh cũng như chính đạo thánh Chúa Ki-tô phải được Sách Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực tế, trong các Sách Thánh, Cha trên trời đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ bằng tất cả lòng trìu mến" (Mk 21).

Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã nhắc lại lời thánh Giê-rô-ni-mô: "Không biết Sách Thánh là không biết Chúa Ki-tô" rồi khuyến khích các tu sĩ "hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Sách Thánh" và khẳng định: "Các giám mục có phận sự dạy dỗ cách thích hợp cho các tín hữu đã được trao cho mình biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh, nhất là Tân Ước và trước tiên là các sách Tin Mừng, nhờ các bản dịch. Các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ, để con cái Hội Thánh có thể sử dụng Sách Thánh cách bảo đảm và ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Sách Thánh" (MK 25).

Hội Thánh muốn trao Sách Thánh vào tay mỗi người tín hữu và cả những người ngoài Ki-tô giáo, bởi vì "cũng như đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể thì cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng sẽ có một đà tiến mới nhờ gia tăng lòng sùng kính Lời Chúa", là lời "hằng tồn tại muôn đời" (x. MK 25-26).

4. Làm thế nào để hiểu Sách Thánh?

Sách Thánh là Lời Chúa đã thành lời người, cũng như Ðức Ki-tô là Lời Chúa đã thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Cả hai là công trình của Thánh Thần: Lời Chúa thành lời người do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra; Lời Chúa thành người phàm do Thánh Thần tạo dựng tác động trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a. Công Ðồng khẳng định: "Lời của Chúa diễn tả qua ngôn ngữ của loài người, được đồng hoá với tiếng nói loài người, cũng như xưa Lời của Chúa Cha hằng hữu đã trở nên giống loài người, sau khi nhận lấy sự yếu đuối của xác phàm" (MK 13).

Tính cách "nhập thể" này khiến người ta phải nhờ đến các phương pháp nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, xã hội, các phương pháp phân tích văn chương để "tìm hiểu điều các tác giả Sách Thánh thực sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ" (x.MK12). Công việc này Công Ðồng kêu gọi các nhà chuyên môn thực hiện để giúp những người có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa "truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa cho các tín hữu". Còn chính "những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa? phải gắn bó với Sách Thánh nhờ chăm đọc và ân cần học hỏi? để khỏi trở thành kẻ huênh hoang rao giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe Lời Thiên Chúa trong lòng" (x. MK 23-26).

"Nhưng Sách Thánh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và chú giải trong Chúa Thánh Thần." Muốn thế, phải tôn trọng toàn thể hoạt động của Thánh Thần, nghĩa là "phải ân cần lưu ý đến nội dung, và sự thống nhất toàn bộ Kinh Thánh, dựa trên truyền thống sống động của toàn Hội Thánh và trên sự tương hợp toàn bộ đức tin" (MK 12).

Vậy phải chăng người Ki-tô hữu giáo dân (không phải là giáo sĩ, tu sĩ, nhà nghiên cứu?) đành chỉ chờ nghe giảng dạy chứ không được cầm Sách Thánh trong tay mà đọc? Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã ra lệnh: "Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các Ki-tô hữu" (MK 22). Trách nhiệm của các giám mục là "dạy các Ki-tô hữu biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh? nhờ các bản dịch" (MK 25). Như vậy Công Ðồng khuyến khích mọi Ki-tô hữu trực tiếp tiếp xúc với Sách Thánh.

5. Làm thế nào để được Lời Chúa nuôi dưỡng như lương thực?

Công việc của các nhà nghiên cứu và các người rao giảng là giúp người Ki-tô hữu hiểu Lời Chúa trong Sách Thánh. Nhưng sự hiểu biết đó không sinh ích gì nếu mỗi người không trở thành mảnh đất tốt đón nhận hạt giống Lời Chúa, nghĩa là "những kẻ nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả" (Lc 8,15).

Thánh Phê-rô tuyên xưng: "Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời" sau khi Chúa Giê-su tuyên bố: "Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống" (Ga 6,63.68). Chính vì "tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng" (2 Tm 3,16) và "chính nhờ có Thánh Thần thúc đẩy mà có những người nói theo lệnh của Thiên Chúa" (2Pr 1,21), nên Lời Thiên Chúa có sức thông ban Thần Khí cho chúng ta tương tự như các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Do đó điều trước tiên là chúng ta phải cung kính đọc hoặc nghe với đức tin cũng như khi lãnh nhận các bí tích.

Khung cảnh thuận lợi nhất để đón nhận Lời Chúa là khi cử hành các giờ kinh phụng vụ và các bí tích, vì những lúc ấy tâm hồn chúng ta được chuẩn bị, và phụng vụ nâng đỡ chúng ta.

Ngoài khung cảnh phụng vụ, chúng ta có thể đọc và suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa. Ðây là hình thức đón nghe Lời Chúa trong cầu nguyện đã có từ thời Dân Chúa bị lưu đày ở Ba-by-lon (thế kỷ VI trước CN). Khi không còn phụng vụ tế tự tại đền thờ Giê-ru-sa-lem, Dân Chúa mới chú ý đến lời ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ tụ họp nhau trong Hội đường (ngày sa-bát) để nghe lại Lời Chúa đã phán dạy qua ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ lắng nghe và nghiền ngẫm, đối chiếu với những gì họ đang sống. Nhờ đó họ hiểu được nguyên nhân cuộc sống hiện tại là do tội lỗi của họ gây ra, đồng thời họ tìm được niềm hy vọng vì khi các ngôn sứ răn đe thì cũng công bố lời hứa cứu độ. Như thế Lời Chúa dạy cho họ biết hoán cải và hy vọng. Từ đó họ ăn năn thống hối, cầu xin ơn tha tội, ơn giải phóng, ơn cứu độ?

Trong các văn kiện gần đây, Ðức Gio-an Phao-lô II đã đề cao việc suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa (xem Tông huấn về "đào tạo linh mục" số 47; "Ðời sống thánh hiến" số 94; sứ điệp nhân "ngày quốc tế giới trẻ" 1997 tại Paris, số 6). Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả vài nét về cách suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa này, dựa theo cách giải thích của Ðức Hồng Y Carlo Maria Martini. Có thể phân biệt ba bước trong tiến trình suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa:

a. Ðọc

Bắt lấy những yếu tố quan trọng của bản văn bằng cách chú ý đến các động từ, các chủ từ, các tình cảm, tính cách của hành động, các sự việc nối tiếp nhau vì lý do nào. Nếu chịu khó đọc đi đọc lại, sẽ luôn thấy mới mẻ. Liên tưởng đến những đoạn tương tự trong Sách Thánh giúp ta chuyển từ mạch văn trước mắt đến những viễn tượng rộng lớn hơn, vì toàn Sách Thánh là một cuốn sách duy nhất. Ðây là việc khảo sát bản văn, ai cũng có thể làm được. Có thể nói đọc là tra vấn bản văn.

b. Suy niệm

Khi đọc ta mới chỉ chú ý đến ý nghĩa của các từ ngữ. Suy niệm là nghiền ngẫm về những tình cảm, những hành động, những thái độ do kết cấu của các từ ngữ gợi lên: có thể là thái độ của Thiên Chúa đối với con người: lòng thương xót, sự thành tín, sự công chính; hoặc thái độ của con người đối với Thiên Chúa và với nhau: ngợi khen, cảm tạ, thống hối - phản bội, dối trá, hèn nhát? .

Nghiền ngẫm giúp ta nhận ra những giá trị thường hằng hàm chứa trong bản văn. Sau đó ta đối chiếu với tình trạng bản thân: tôi đảm nhận những giá trị thường hằng đó như thế nào? Ðó là để cho Lời Chúa tra vấn, dạy dỗ, an ủi, mời gọi ta.

Việc suy niệm như thế khơi dậy trong chúng ta những tâm tình, những ước nguyện để thân thưa với Thiên Chúa: ngợi khen, cảm tạ, thống hối, cầu xin, dâng hiến? Lời Chúa đưa ta đến chỗ đáp lại, đối thoại với Người. Ðó là cầu nguyện, như Công Ðồng nói: "Cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Sách Thánh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa khi cầu nguyện và chúng ta nghe Người nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn của Chúa" (MK 25).

c. Chiêm ngắm

Việc nghiền ngẫm và cầu nguyện dần dần tập trung lại trong việc chiêm ngắm chính mầu nhiệm Chúa Giê-su hiện diện trong mọi trang Sách Thánh và nhất là trong sách Tin Mừng. Thánh Thần đưa chúng ta vượt qua bản văn để cảm nghiệm và sống với sự hiện diện của Thiên Chúa đang hành động trong mọi biến cố Sách Thánh kể lại.

Như vậy chúng ta đi từ bản văn đến những giá trị bản văn nêu lên và cuối cùng đến với chính Ðấng hành động trong các biến cố và đang nói với ta.

Bước thứ nhất (đọc) có thể nhờ người giải thích, giúp đỡ. Bước thứ hai (suy niệm chiêm ngắm) mỗi người phải đích thân đi vào với ơn Chúa giúp. Bước thứ ba hoàn toàn do Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta.

Nhờ suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa, mỗi người sẽ được Thiên Chúa đưa vào một kinh nghiệm đích thân gặp gỡ Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta cốt để đưa chúng ta vào mầu nhiệm của Người, chia sẻ cho chúng ta sự sống của Người.

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2010

Những Cái Nhất Của Kinh Thánh

1. SÁCH ĐƯỢC IN NHIỀU NHẤT VÀ BÁN CHẠY NHẤT
Kinh Thánh là cuốn sách có số lượng in nhiều nhất và bán chạy nhất từ trước đến nay. Theo ước tính đã có trên 3 tỷ cuốn Kinh Thánh đã được in ra. Hiện nay, có khoảng 100 triệu cuốn Kinh Thánh được bán ra mỗi năm, và con số này mỗi năm càng gia tăng.

2. SÁCH CÓ SỐ ĐỘC GIẢ ĐÔNG NHẤT VÀ ĐƯỢC DỊCH RA NHIỀU NGÔN NGỮ NHẤT
Với số lượng in nhiều nhất như thế, số người đọc Kinh Thánh cũng đứng hàng đầu. Nếu tính con số tối thiểu cứ mỗi cuốn sách được in ra có ít nhất 2 người đọc, thì trên thế giới đã có trên 6 tỷ người đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh còn là cuốn sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất.

3. SÁCH VIẾT VỀ MỘT TRUYỆN TÌNH HAY NHẤT
Không có lá thư tình nào, truyện tình nào trên thế giới hay và dài như những lá thư, truyện tình trong Kinh Thánh. Chúa Giêsu nói: “không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu người hiến mạng sống mình vì người yêu”. Và chính Ngài đã làm điều đó để chứng minh tình yêu Thiên Chúa dành cho ta.

4. SÁCH HỢP THỜI NHẤT
Mặc dù Kinh Thánh đã hơn 2000 năm, thế nhưng một điều kỳ diệu là những Lời Kinh Thánh không lỗi thời nhưng lại rất hợp thời. Những lời trong Kinh Thánh vẫn rất đúng và vẫn được đem ra áp dụng trong đời sống hàng ngày.

5. SÁCH CÓ QUYỀN NĂNG NHẤT
Tất cả những sách có mặt trên mặt đất đều không có quyền năng vì là những lời của con người. Lời Kinh Thánh đầy quyền năng vì là Lời của Thiên Chúa hằng sống, uy quyền, và vinh quang muôn ngàn đời. Lời Kinh Thánh có quyền năng tha thứ, chữa lành, biến đổi, cho kẻ chết sống lại và mang đến ơn Cứu Độ.

6. SÁCH NÓI VỀ THIÊN CHÚA HAY NHẤT
Nếu bạn đã từng đi tĩnh tâm nghe một bài thuyết giảng hay nhất về Thiên Chúa của một người nổi tiếng nhất thì tất cả những điều bạn nghe đều xuất phát từ cuốn Kinh Thánh. Một bài giảng về Thiên Chúa mà không có điểm tựa từ Kinh Thánh là một bài giảng “ trật đường”. Không ai có thể biết và viết về Thiên Chúa nếu không được mạc khải cho. Và Thiên Chúa chính là tác giả của sách Kinh Thánh.

7. SÁCH NÓI VỀ BẠN HAY NHẤT
Càng đọc Kinh Thánh, bạn càng khám phá ra những lời trong Kinh Thánh đang nói về bạn và cho chính bạn. Bạn đang đau khổ, buồn sầu, tội lỗi, chán nản hay vui sướng, bình an… tất cả những điều đó bạn đều tìm thấy trong Kinh Thánh.

8. SÁCH QUAN TRỌNG VÀ GIÁ TRỊ NHẤT
Chúa Giêsu nói: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Nói cách khác, nếu bạn chỉ ăn để sống mà thiếu niềm tin và sống Lời Chúa thì bạn đang chết một nửa đời. Một nửa đời bạn đang chết đó là linh hồn bạn đang thiếu của ăn Lời Chúa.

9. SÁCH ĐẮT GIÁ NHẤT
Kinh Thánh được viết vì bạn và cho bạn một cách nhưng không. Phú quý, giàu sang, nghèo nàn, thất học đều có thể đọc. Thế nhưng, Kinh Thánh là sách đã được trả giá đắt nhất không phải về giá trị vật chất thế gian nhưng là bởi Máu và Cái Chết của Chúa Giêsu.

10. SÁCH NÓI VỀ QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI CHẮC CHẮN NHẤT
Không một thầy bói, nhà chiêm tinh nào có thể nói về quá khứ và tương lai đúng và chắc chắn nhất như sách Kinh Thánh. Vì ngay cả số mệnh, cuộc đời của họ cũng nằm trong cuốn Kinh Thánh. Bạn muốn đi đúng đường, đúng hướng, có tương lai chắc chắn hãy tìm đọc Kinh Thánh.

11. SÁCH CÓ NHIỀU SÁCH NHẤT TRONG MỘT CUỐN SÁCH
Kinh Thánh là sách có nhiều cuốn sách nhất trong một cuốn sách. Tổng cộng có 73 cuốn Kinh Thánh: 46 cuốn Cựu Ước và 27 cuốn Tân Ước.

12. SÁCH DUY NHẤT ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG ĐỜI ĐỜI CHO BẠN
Không ai trên đời có thể bảo đảm cho bạn sẽ được sống đời đời và cũng không ai trên đời có thể cứu bạn khỏi sự chết đời đời. Chỉ có một mình Chúa Cứu Thế Giêsu duy nhất mới bảo đảm được điều đó. Những ai tin, tuân giữ Lời Ngài và đón nhận Ngài là Cứu Chúa của đời mình thì sẽ được sống đời đời.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Lười biếng - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Lâu rồi, gã có đọc trên một vài tờ báo và đã lượm được một mẩu suy gẫm về cuộc sống hôm nay, đại khái như thế này :


Hiện giờ,
Chúng ta có nhà cao hơn, nhưng nhân cách lại nhỏ hơn.
Chúng ta có nhà to hơn, nhưng gia đình lại nhỏ hơn.
Chúng ta có nhà sang trọng hơn nhưng tổ ấm lại đổ vỡ nhiều hơn.
Chúng ta có đường phố rộng hơn, nhưng quan điểm lại hẹp hơn.
Chúng ta mua sắm nhiều hơn, nhưng hưởng thụ lại ít hơn.
Chúng ta có nhiều tiện nghi hơn, nhưng lại ít thời gian nhàn rỗi hơn.
Chúng ta có nhiều bằng cấp hơn, nhưng lại kém ý thức hơn.
Chúng ta hiểu biết nhiều hơn, nhưng lại kém suy xét hơn.
Chúng ta có nhiều nhân tài hơn, nhưng lại ít sáng tạo hơn.
Chúng ta có nhiều thuốc men hơn, nhưng sức khỏe lại kém hơn.
Chúng ta có nhiều của cải hơn, nhưng lại thiếu nhân bản hơn.
Chúng ta nói quá nhiều, nhưng lại yêu quá ít.
Chúng ta biết cách kiếm sống, nhưng không biết xây dựng cuộc đời.
Chúng ta sống thọ hơn, nhưng lại sống ít ý nghĩa hơn.
Chúng ta chinh phục được vũ trụ, nhưng không thắng được cõi lòng.
Chúng ta làm được những việc lớn hơn, chứ không phải là tốt hơn.
Chúng ta làm sạch không khí, nhưng lại gây ô nhiễm trong tâm hồn.
Chúng ta đã tách nguyên tử, chứ không loại bỏ được thành kiến.
Chúng ta viết nhiều hơn, nhưng học ít hơn.
Chúng ta dự tính nhiều hơn, nhưng thực hiện ít hơn.
Chúng ta chỉ biết vội vã, nhưng không biết chờ đợi.
Chúng ta có thu nhập cao, nhưng đạo đức lại thấp.
Chúng ta có nhiều thức ăn hơn, nhưng lại kém dinh dưỡng.
Chúng ta có nhiều thức ăn nhanh, nhưng lại tiêu hóa chậm.
Chúng ta chuộng số lượng, mà quên mất chất lượng.
Chúng ta có lắm lợi nhuận, nhưng quan hệ lại hời hợt.
Chúng ta có nhiều phương tiện giải trí, nhưng lại ít niềm vui.
Chúng ta có thu nhập gấp đôi, nhưng chia ly lại nhiều hơn.
Chúng ta bên ngoài thì hào nhoáng, nhưng bên trong lại rỗng tuếch.
Chúng ta cổ võ cho hòa bình thế giới, nhưng nội chiến vẫn triền miên.
Chúng ta làm được những việc phức tạp, nhưng lại không làm được những việc đơn giản với đồng loại.
Chúng ta uống quá nhiều, hút quá mức, chi quá lố, cười quá ít, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, đọc quá ít, xem truyền hình quá nhiều và lái xe quá nhanh.
Chúng ta đã đi lên mặt trăng và quay trở về, nhưng lại cảm thấy phiền hà khi băng qua đường gặp người hàng xóm mới đến.
Chúng ta có nhiều máy tính để lưu trữ thông tin nhằm cung cấp những bản sao, nhưng lại ít liên lạc thân tình hơn.


Đây là thời của những chuyến du hí chớp nhoáng, của khăn dùng một lần, của buông trôi đạo đức, của những chỗ dừng một đêm, của những cơ thể béo phì và của những loại thuốc kích thích, an thần để giết người.


Và rồi tác giả đã kết luận :
- Thời đại công nghệ mang lại cho bạn thông điệp này và cũng là thời đại bạn phải lựa chọn : hoặc là sống khác đi, hoặc là sẽ buông xuôi.


Riêng phần gã, trong bài này, gã muốn thêm một chi tiết nho nhỏ khác nữa, đó là :
- Hiện nay chúng ta có quá nhiều máy móc, nhưng lại lười và làm biếng hơn bao giờ hết.


Thực vậy, ngày xưa cha ông chúng ta cuốc bộ dăm bảy cây số là chuyện nhỏ, còn ngày nay người ta đi vài ba trăm mét cũng phải vội leo lên xe. Ngày xưa người vợ hay người mẹ trong gia đình phải quét dọn và lau chùi nhà cửa, cũng như giặt giũ áo quần bở hơi tai, toát cả mồ hôi hột, còn ngày nay người ta chỉ cần mở máy hút bụi hay ném vào máy giặt…loáng một chốc là xong.


Chẳng thế mà trong một bài viết mang tựa đề là “Nghệ thuật làm biếng” trên báo Kiến thức Ngày Nay, thiên hạ đã đưa ra một nhận xét như sau :
“ Kỳ lạ nhất là trong lúc người có vẻ hoạt động hơn khi rỗi rảnh, thì khoa học kỹ thuật lại mang đến những cải thiện khuyến khích sự…lười biếng như máy giặt, máy rửa chén, máy hút bụi…Thậm chí kỹ thuật hiện đại đã tiêu diệt hoàn toàn những cố gắng ít nhất về sức lực : đi vài trăm mét cũng leo lên xe hơi chứ không đi bộ, dùng thang máy để lên lầu, dùng “remote control” điều khiển TV và video vì sợ phải di chuyển chỉ vài bước chân! Nhiều nhà xã hội học cho rằng con người càng lúc càng béo phì là do cuộc sống “chây lười” kiểu đó tạo ra.”


Vậy thế nào là lười biếng ?
Mở tự điển ra gã ghi nhận như sau :
- Lười là biếng nhác, ham ở không, sợ làm việc.
- Còn biếng là lười, trễ nải, uể oải, không thiết đến việc làm.
Tác giả đã trích dẫn một câu tục ngữ để minh chứng :
- Những người lêu lổng chơi bời,
Cùng là lười biếng, ta thời tránh xa.
Nói tóm lại, lười hay biếng thì cũng hao hao giống nhau, nghĩa là thích ở không, thích hưởng nhàn và ngại làm việc, ngay cả những việc cần thiết nhất như tắm rửa, vệ sinh thân thể của mình.


Tục ngữ ca dao Việt Nam đã đưa ra những nét chấm phá về họ như sau :
- Ăn như rồng cuốn,
Làm như cà cuống lội ngược.
- Ăn thì lựa những miếng ngon,
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
Như thế còn đỡ, chứ như thế này thì quả thực là “siêu đẳng” :
- Ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng,
Có ai lấy tớ, thì khiêng tớ về.
Còn người phương Tây cũng diễn tả về họ như thế này :
- Kẻ lười biếng, như con đà điểu, khi phải bay thì nói : tôi là một con lạc đà. Còn khi phải mang nặng thì bảo : tôi là một con chim.


Cách đây không lâu, báo Phụ Nữ Chủ Nhật có đưa ra một mẫu gương “điển hình tiên tiến” cho cái sự làm biếng. Nhân vật này quả thực đã “lươi huyền” tới trình độ siêu đẳng mà có lẽ trong cả và thiên hạ không ai sánh bằng.


Mẩu tin ấy như sau :
“Làm biếng hết cỡ. Danh hiệu này có lẽ rất xứng đáng được trao cho gã thuê nhà của ông lão bảy mươi tám tuổi Camille de Roey ở thành phố Strombeek-Bever thuộc nước Bỉ.


Suốt mười bốn năm qua, gã thuê nhà bốn mươi tuổi này đã không hề quét dọn bất chấp lời kêu gọi hay đe dọa của ông chủ! Ông chủ nhà De Roey đã phải dùng biện pháp cắt điện từ năm 1992, nhưng vẫn không lay chuyển được tính…làm biếng của gã thuê nhà cứng đầu.


Cúp diện ư ? Gã ta nối dây với máy điều nhiệt ở hệ thống cung cấp khí nóng để xài đỡ.


Thậm chí ông chủ đã phải dùng đến biện pháp nhờ cậy hội đồng thành phố và cảnh sát làm áp lực “tống khứ gã thuê nhà ra khỏi cửa”, nhưng gã ta vẫn bình chân như vại.


Mãi tới ngày 28 tháng 4 năm 2002, “gã sống khắc khổ” ấy không còn đủ tiền để trả, nên đã tự động xách va-li ra khỏi nhà. Tuy nhiên, “tài sản” gã ấy để lại là đống rác khổng lồ với hàng trăm chai rỗng, lon đồ hộp, thức ăn dư thừa và rác bẩn chất lên đến tận trần.”


Vậy sự lười biếng sẽ đem lại những hậu quả như thế nào ?
Nhìn dưới góc độ tích cực, sự lười biếng đôi khi cũng đem lại một chút hậu quả tốt đẹp và cần thiết cho con người.


Chẳng hạn, theo tác giả Lê Lộc, đối với những người bị “tress” do làm việc quá căng thẳng, thậm chí đối với những ai có nỗi buồn ray rứt, các bác sĩ khuyên họ hãy buông bỏ tất cả và hãy đi nghỉ hè như những cô cậu học trò. Đây là một nhu cầu có thật và hữu ích để giải tỏa tâm trí, thúc đẩy một nguồn sinh lực mới để đi tiếp trong cuộc sống.


Chẳng hạn, sau một buổi sáng miệt mài làm việc, thì giấc ngủ ban trưa cũng là điều cần thiết để được thanh thản và hăng say cho công việc ban chiều. Trong một bản nhạc, có nốt bổng thì cũng có nốt trầm, nếu cứ bổng mã thì sẽ phải gân cổ ra mà hát. Sợi dây cung có lúc căng thì cũng phải có lúc chùng, nếu cứ căng mãi thì sẽ đứt…


Sau đệ nhị thế chiến, dân Nhật bản hùng hục xây dựng lại đất nước, làm ngày không đủ họ bèn tranh thủ làm đêm, thành thử đầu óc họ lúc nào cũng căng thẳng. Số người bị “tress” và tự tử ở đất Phù Tang này rất cao, mặc dầu cuộc sống vật chất của họ chất rất đầy đủ. Và thế là họ bèn mở mắt ra và quyết định làm việc ít thôi, còn dành thời giờ…làm biếng, để nghỉ ngơi và đi du lịch nơi này nơi khác cho cuộc sống được trở nên tươi hồng và đáng sống.


Tại thành phố Medellin nước Colombia, hàng năm người ta tổ chức “ngày làm biếng”. Đó là ngày mà chẳng ai muốn làm việc, một ngày hội được ra đời từ năm 1985, nhằm phản đối tình trạng thất nghiệp và công nhân bị đuổi việc tràn lan. Để ủng hộ cho “ngày lười biếng” này vào trung tuần tháng tám vừa qua, các nghệ sĩ nỗi tiếng của thành phố đã tham gia biểu diễn trên đường phó. Tiết mục biểu diễn của họ mang đúng ý nghĩa của ngày hội : không ai làm gì cả ngoài việc ngồi đọc báo!!!
Cũng trong chiều hướng ấy, cũng theo tác giả Lê Lộc trên báo Kiến Thức Ngày Nay, suốt thập niên 60, phong trào “hippie” của giới trẻ phương tây đã tẩy chay các hình thức lao động áp dụng trên toàn xã hội, để bày tỏ sự tự do và đời sống cá nhân phong phú.


Tại Pháp, trong làn sóng biểu tình phản đối nổi tiếng vào tháng 5 năm 1968, nhà xã hội học Paul Lafargue có đề ra “quyền được lười biếng”, rất được giới trẻ hoan nghênh. Không hiếm các kiến nghị của giới trẻ đòi hỏi làm việc mỗi ngày…hai tiếng đồng hồ, còn bao nhiêu thời giờ khác thì để nghỉ ngơi và giải trí.
Tuy nhiên, phong trào phản kháng này rất nhanh chóng bị phai mờ do cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1973 và nạn thất nghiệp gia tăng.
Hậu quả tích cực của chuyện làm biếng là như thế. Còn hậu quả tiêu cực thì sao ?


Hậu quả tiêu cực thứ nhất, sự lười biếng là nguồn gốc sinh ra những thói hư tật xấu về tinh thần, như các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Nhàn cư vi bất thiện.
Chẳng riêng gì các cụ ta ngày xưa, mà hầu như cả và thiên hạ đều nói như vậy. Chẳng hạn người Tàu thì bảo :
- Lười biếng chính là mồ mả sống động vậy.
- Trăm chứng bệnh hư hỏng đều do lười biếng mà sinh ra.
Còn người Tây thì nói :
- Lười biếng là một người mẹ có một con trai là thằng ăn cắp và một con gái là cái đói nghèo.
- Một trí tuệ tầm thường mà chuyên cần có thể tiến xa hơn một trí tuệ thông minh nhưng lười biếng.
Kinh nghiệm đời thường cũng cho thấy : vì nhàn rỗi nên đờn ông mới tụm năm tụm bảy để mà cờ bạc hay chè chén say xưa, còn đờn bà mới tụm hai tụm ba để mà nói hành nói xấu người khác…Và mọi bất ổn đều bởi đó mà ra cả.
Hậu quả tiêu cực thứ hai, sự lười biếng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo túng về vật chất, như các cụ ta ngày xưa cũng đã nói :
- Giàu đâu tới kẻ ngủ trưa,
Sang đâu tới kẻ say sưa tối ngày.
Thực vậy, không làm việc thì đào đâu ra tiền, giữa một thời buổi gạo châu củi quế. Và như vậy cái nghèo như đã được nắm chắc trong lòng bàn tay của những kẻ lười biếng. Đúng thế :
- Kẻ lười biếng đi chậm đến nỗi sự nghèo túng đuổi theo kịp.
- Kẻ lười biếng là anh ruột của tên ăn mày.
- Tuần lễ của người làm việc có bảy ngày hôm nay, còn tuần lễ của kẻ lười biếng của bảy ngày mai.
Khi lâm vào tình trạng nghèo túng, thì chính bản thân mình phải phấn đầu, phải chịu khó làm việc thì mới hòng thoát ra, chứ còn biếng nhác theo kiểu “há miệng chờ sung” thì chỉ có nước “khố rách áo ôm” mà thôi.


Hình như “Lã Phụng Tiên” có một câu chuyện ngụ ngôn kể lại rằng : ngày kia, chú nhái bén rớt vào một thùng sữa bò. Cứ sự thường thì chú sẽ bị chết chìm, thế nhưng chú vẫn ra sức vùng vẫy với một chút hy vọng le lói là sẽ được cứu thoát.
Và sự thật đã xảy ra đúng như chú mong ước. Nhờ sự vùng vẫy của chú mà thùng sữa bò bỗng đông đặc lại thành bơ và chú đã trèo ra một cách dễ dàng.
Vì thế mà người ta mới bảo :
- Hãy tự cứu lấy mình, rồi trời sẽ cứu.
Kẻ lười biếng đã lãng phí thời giờ của mình một cách vô ích. Mà thời giờ là một cái gì rất ư là quí giá. Người Tây thì bảo :
- Le temps, c’est l’argent. Thời giờ là bạc.
Còn người Tàu thì nói :
- Nhất thốn quang âm nhất thốn kim. Một tấc thời gian là một tấc vàng.


Trong thực tế, thời giờ có lẽ còn quí hơn cả vàng lẫn bạc. Mới đây, tác giả Nguyễn Tiến Hữu đã đưa ra vài con số “kinh hoàng” mà con người trên thế giới đã làm được trong một phút.
Phải, trong một phút người ta đã sản xuất ra :
- 61.000 lít rượu vang.
- 210.000 lít bia.
- 4 tấn ca cao.
- 11 tấn cà phê hột.
Và đã nốc vào bụng 1,6 triệu tách cà phê.
Người ta ăn hết bao nhiêu trong một phút ? Không biết. Nhưng con người đã giết chết cơ man nào là súc vật lớn bé để sản xuất ra :
- 117 tấn cá.
- 314 tấn thịt đủ loại.
- 14 tấn xúc xích thịt heo.
Con người còn nhờ đàn gà đẻ giùm 1,7 triệu quả trứng để ăn với 680.000 ổ bánh mì ban sáng.
Tất cả chỉ trong một phút.
Không chỉ biết ăn, con người còn biết chơi. Và chơi cũng không kém phần vĩ đại. Chỉ trong một phút, họ cho ra lò :
- 165 chiếc xe đạp để đi.
- 62 chiếc ô tô để chạy.
- 178 chiếc tivi để xem.
- 281 chiếc radio để nghe.
- 7.935 đôi giày để mang.
- 126 máy điện thoại để nói chuyện thoải mái.


Con mắt, đôi chân, cái tay đều có điều kiện tiêu khiển, thì cái miệng nó ghen.Con người lại phải cật lực sản xuất thêm trong một phút :
- 15 tấn thuốc lá, tương đương với 21.000 điếu xì gà bự và 10 triệu điếu thuốc lá để phì phèo.


Hút thuốc chưa đủ, cái miệng còn đòi nhấm nháp lúc xem tivi. Và thế là cứ một phút cái miệng ngốn hết 252 ký đậu phộng! Nhưng so ra chẳng thấm vào đâu so với họ sản xuất được 45 tấn đậu phộng trong một phút.


Chưa hết chuyện, cái tóc con người vẩn tiếp tục mọc. Nó mọc đến 1,1 cây số chỉ trong một phút ngắn ngủi.


Từ những con số kinh hoàng kể trên, người Đức có câu tục ngữ khá sâu sắc :
- Ai không biết quí trọng một phút, người đó chẳng đáng sống một giờ.


Kẻ lười biếng luôn tiêu dùng những sản phẩm do tay người khác làm ra, như : gạo, trà, đường, sữa, xăng, dầu…thế mà hắn lại chẳng làm ra được một chút gì cả, vì thế đối với xã hội, kẻ lười biếng chính là một tên ăn cắp chính hiệu con nai vàng ngơ ngác.


Tới đây, gã xin ghi lại một mẩu chuyện nho nhỏ :
“Ở dơ như hủi. Chỉ tắm một lần một tuần, nếu cần thiết. Một người tồi”.
Đó là lời tự quảng cáo để tìm bạn đời của ông Reason, 63 tuổi ở thành phố Aberdeen, nước Úc.
Thế nhưng, lời quảng cáo này lại hấp dẫn phái nữ mới lạ chứ.
Vô cùng ngạc nhiên vì chỉ sau một vài ngày những lời quảng cáo này được đăng trên mục tìm bạn bốn phương, ông đã nhận được không biết bao nhiêu thư điện tử.


Sau khi nói chuyện qua điện thoại và email qua lại, ông quyết định sẽ hẹn gặp mặt 7 người “dường như tâm đầu ý hợp” vào tháng chín.
Quí bà quí cô cho biết sở dĩ mình quyết định làm quen vì :
- Anh ấy có vẻ thật thà và có óc hài hước khi mô tả về mình”.
Ôi, cái làm biếng cũng có tí lợi đấy chứ và đờn bà con gái đúng là khó hiểu thật.
Để kết luận, gã xin trích một mẩu trong báo Kiến Thức Ngày Nay như sau :
“Lười biếng tạo ra các hậu quả sinh lý cho cơ thể con người và cho xã hội. Nhưng lười biếng không phải lúc nào cũng tiêu cực. Vấn đề là phải biết…lười cho đúng lúc.
Bạn đang “tấn công tình cảm ráo riết” một cô gái, cô ta sắp sửa xiêu lòng mà bạn lại lăn ra ngủ và ngáy khò khò, thì quả thực bạn vừa lười lại vừa chẳng giống ai!


Tuy nhiên, khi mơ màng nhìn trăng sao mà suy nghĩ :
- Mình là ai ?
- Mình từ đâu mà đến ?
- Và mình sẽ đi về đâu ?
Ai dám bảo họ là kẻ lười biếng ?
Vì nếu như thế, thì tất cả các bậc hiền nhân quân tử cao quí xưa nay đều không được….siêng cho lắm.

Forum - Chuyện phiếm góp nhặt

Không phải là vô lý khi Bill Gates nói với giới trẻ Singapore cách đây vài năm, rằng các bạn thuộc về “Generation I”, thế hệ I, và ông giải thích, là thế hệ của Internet. Thật vậy, trong thời đại này, việc ứng dụng của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông đi cùng với nó đã mở cho con người một thế giới thật hơn mà cũng ảo hơn, một thế giới gần nhau hơn mà cũng xa vời vợi, một thế giới yêu thương hơn mà lại cũng dễ đổ vỡ hơn. Tại sao thế?

Chúng tôi không phân tích những tiện ích mà máy tính và mạng lưới điện toán mang lại cho loài người nói chung, mà chỉ xin dừng lại chỗ “Forum”, diễn đàn. Lướt một vòng các forum, thiên hạ tá hoả nhìn thấy có đủ loại forum, thượng vàng hạ… sữa melamine. Có những forum để ca ngợi lòng thương xót Chúa, nhưng cũng có forum cho thiên hạ bêu xấu Hội Thánh và các môn đệ của Chúa Kytô; có những forum đề cao đạo học, nhưng cũng có forum ăn chơi trác táng; có forum dạy cách buôn vàng, bán ngoại tệ, nhưng cũng có forum bàn về cách đổi điện thoại cho hợp thời v.v… Quả thật, tất cả thế giới thật của con người đã gom vào trên cái màn hình nhỏ xíu ấy, phơi bày tất cả những gì tâm can con người có thể nghĩ đến được. Và cũng do vậy mà nó lại ảo vô cùng, bởi vì có khi thực tại ấy chưa hình thành thì đã thành hoang tưởng. Những forum ấy kéo con người lại với nhau. Cha Teilhard de Chardin thật nhìn xa trông rộng khi ngài viết: “Tất cả những gì lên cao thì gặp nhau”. Cha Hoàng Xuân Nghiêm dịch từ tiếng Pháp “Tout ce qui monte converge” ra tiếng Hán Việt là “đăng giả hội”. Do đó, đúng là forum đem con người lại gần nhau, tụ hội cùng nhau. Nhưng nếu không kéo nhau lên đến Chân, Thiện, Mỹ thì cái gần nhau ấy sẽ hoá ra là cái gần giả tạo, cái gần để cám dỗ nhau, cái gần của Eva và con rắn. Và đã gần mà không “đăng”, không “hội”, không tụ lại trong một lý tưởng chung thì sự đổ vỡ là tất yếu.

Tôi không muốn nhắc lại Thái Hà như kim chỉ nam của các bài viết, sợ đã nhắc đến quá nhiều, nhưng xin phép được chọn Thái Hà như một tiếng gọi của công lý. Tiếng gọi ấy đã vang lên đến tận cùng bờ cõi đất (cf. TV. 19). Ngày xưa, Giuse bị anh em bán cho lái buôn Ai cập, chia rẽ đau thương là thế, lại biến thành ơn huệ cho dân Thiên Chúa, và họ đã được cứu nhờ biết “đến cùng Giuse” (cf. St. 41). Người viết bài này không muốn so sánh dân Việt tan tác muôn nơi như Giuse ngày xưa ra đi để chuẩn bị cho ngày dân Chúa cần tìm đến, nhưng trong số những người Việt ra đi ấy, có những con người, những cộng đoàn nhiệt tâm làm cho tiếng công lý của Thái hà vang đến các hang cùng ngõ hẻm của các nước thế gian. Anh Hoàng Ngọc Hội, cựu chủng sinh Đà nẵng tại Hoa Kỳ, đã ý thức sâu xa rằng khi anh giơ cao ngọn nến trong đêm cầu nguyện cho công lý và hoà bình nơi đất khách quê người. Lúc đó anh và bạn bè, vừa tha thiết cầu nguyện vừa gửi một thông điệp cho trần gian. Hình ảnh ấy được gửi đến một forum, những tưởng tất cả thành viên đếu trân trọng và hiệp thông, nhưng bất ngờ, anh đã đau đớn gỡ xuống ngay chỉ vì một hai thành viên có mặc cảm với các linh mục, đã lên tiếng đùa cợt. Như thế, cái thật của một tấm lòng, cái yêu thương của một trái tim, cái nền móng để xây dựng cộng đoàn, bỗng chốc biến thành cái ảo, cái xa cách và cái đổ vỡ đến tận cùng của mọi đổ vỡ.

Tại sao các forum lại thu hút con người đến thế? Một trong những lý do là cái ảo của nó. Khi anh vào forum, anh dùng một cái “nick” và một giọng điệu xa lạ với chính con người anh hiện diện trên cõi trần này. Hoặc là anh là chính anh, nhưng mức độ an toàn khá cao, vì không ai có thể phản ứng ngay với những điều anh đề cập. Và nếu cần thì anh phủ nhận dễ dàng sau đó, và rồi khi “offline” thì ngay cả con người thật của anh trên forum và con người thật ở ngoài đời, xin nhấn mạnh cả hai cùng thật, có khi lại hoà làm một trong một cách thức thật khác, lại rất khác với chính anh. Rồi ai cũng quên đi. Forum mà. Nhưng ít ai chú ý rằng cái mình viết ra, dù ít người đọc, mà ít thật, chỉ năm mười người, vẫn có ảnh hưởng đến một tình cảm, một trái tim và ngay cả một cuộc đời.

Tôi gọi những dòng chữ này là chuyện phiếm, vì cũng chỉ là vài ý nghĩ khi xem qua những diễn đàn. Nhưng ước chi những người tham gia vào các forum, dù không phải viết văn viết báo gì cả, nhưng cũng hiểu rằng có một tâm hồn thiện chí muốn đọc lời đó. Hãy trao cho nhau tiếng yêu thương, tiếng chân thành. Và cũng xin hiểu rằng người mà bạn muốn nhắm đến, một người bạn cũ hay một linh mục của Chúa Kytô, một em bé hay một anh chàng bạn ghét, vẫn mang một nhân vị được giá Máu Chúa Kytô cứu chuộc, và nhân vị ấy đang hướng về Siêu Việt (cf. Học Thuyết Xã Hội của GHCG, chương 1).

GIẤC MƠ LÀM…RỒNG - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Hình như số báo xuân nào, người ta cũng phải tán hươu tán vượn về con giáp.
Chẳng hạn năm nay là năm Canh Thìn, cầm tinh con rồng, thì chắc chắn là phải đá động tới loài động vật “huyền thoại” này.
Viết không giống như vẽ.Thực vậy, chuyện xưa tích cũ kể lại rằng ngày kia người ta hỏi một ông họa sĩ có tài và nổi tiếng :
- Theo ông, thì vẽ cái gì khó nhất ?
Ông họa sĩ trả lời :
- Vẽ người.
Người ta lại hỏi tiếp :
- Còn vẽ cái gì dễ nhất ?
- Vẽ ma, vẽ quỉ.
Đang khi người ta thắc mắc thì ông họa sĩ liền cười hề hề mà giải thích :
- Người thì sống lù lù trước mắt, nếu mình vẽ không giống thì thiên hạ sẽ chê mình là hạng “thợ vẽ thứ dổm”, nên chi vẽ người là việc rất khó. Còn ma quỉ là loài chẳng ai trông thấy, nên muốn vẽ gì thì vẽ, thêm râu thêm ria, thêm sừng thêm cẳng cũng chẳng ai hay. Ấy vậy cho nên vẽ ma vẽ quỉ là việc dễ nhất.
Nghe xong lời giải thích này, người ta bèn lấy làm “khẩu phục tâm phục” ông họa sĩ hết cỡ.
Nhưng trong lãnh vực viết lách thì khác. Giá như lúc này gã được viết nhăng viết cuội về con mèo, con dê hay con…lợn, là những con vật sống quanh chúng ta thì dễ dàng biết bao nhiêu, bởi vì trong hồ sơ lưu trữ, lý lịch và tài liệu về những con vật này quả là phong phú và hay ho.
Chứ còn viết về…rồng, một con vật được liệt vào hàng “cổ tích” thì thực là rỗng tuếch, chẳng có tí ti chất liệu nào cả.
Thế nhưng, phép vua thua lệ làng. Cái lệ của làng báo là đầu năm phải xông đất và điểm mặt con vật cầm tinh. Và như vậy, gã đành phải “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, phệu bừa phệu bãi được tí nào hay tí nấy, bởi vì méo mó có hơn không.
Chẳng hiểu ngày xưa thì thế nào, chứ còn bây giờ gã xin cam đoan cả hai tay lẫn hai chân rằng : chưa một ai đã được nhìn thấy rồng. Thế mà rồng lại len lỏi vào mọi nền văn hóa và có mặt ở khắp mọi nơi mọi chốn, bên tây cũng như bên ta, mặc dù hình thù có khác nhau đôi chút.
Theo tự điển “Larousse” của mấy ông tây, thì rồng là một con vật hoang đường, hình rắn nhưng lại có cánh và có đuôi.
Còn theo Tự điển Việt Nam của Lê văn Đức, thì phe ta xem rồng là một con vật mình dài, có vảy to, miệng rộng, một sừng, chân có vấu, được sinh ra ở dưới nước nhưng lại biết bay trên mây.
Rồng lại còn được mấy chú ba tàu xếp vào hàng đầu trong tứ linh, bốn con thú linh thiêng, đó là long, ly, quy, phụng :
- Áo đen năm nút con rồng,
Ở xa con phụng, ở gần con quy.
Dù hình dong bên ngoài hơi khác nhau vài ba tí, chẳng hạn như có cánh hay không có cánh, có sừng hay không có sừng, có chân hay không có chân…thì rồng vẫn được mọi người quí mến :
- Bao giờ cá lý hóa long,
Đền ơn Cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.
Và từ chỗ quí mến ấy, hầu như mọi người Việt Nam chúng ta đều rất thích mơ được làm…rồng.
Thực vậy, dân tộc nào trên mặt đất này cũng có niềm tự hào riêng về gốc gác, về cội nguồn của mình.
Chẳng hạn như dân Nhật bản chính gốc Phù tang luôn hãnh diện vì mình là con cháu của “Thái dương thần nữ”. Thảo nào mà lá cờ của họ chỉ có mỗi một hình tròn đỏ, tượng trưng cho Mặt trời, nổi bật trên nền trắng.
Chẳng hạn như dân Pháp chính gốc Phú lãng sa luôn hãnh diện vì mình thuộc nòi gà trống Gaulois. Thảo nào mà ngày xưa vào thời Cách mạng 1789, người ta đã vẽ hình con gà trống lên quốc kỳ của mình. Thảo nào mà ngày nay trong những trận đá banh quốc tế, các cầu thủ Pháp thường thả một chú gà trống vào trong sân để cầu may. Thảo nào mà mấy cố tây, mặc dù đã tu hành, nhưng vẫn mang nặng đầu óc dân tộc và luôn hướng về đất mẹ của mình, đã đặt chú gà trống ở đỉnh cao cây thánh giá trên ngọn tháp nhà thờ chính tòa thành phố Đalạt. Vì thế, ngôi nhà thờ này vốn được bàn dân thiên hạ gọi là nhà thờ Con Gà.
Còn người Việt Nam chúng ta, chính gốc Giao chỉ, thì lại hãnh diện vì mình là con rồng cháu tiên. Niềm tự hào này bắt nguồn từ một truyền thuyết như sau :
Lộc tục, con vua Đế minh, lên ngôi vua và lấy hiệu là Kinh dương vương. Kinh dương vương lấy con gái của Động đình quân là Long nữ, sinh ra Sùng lãm. Sùng lãm nối ngôi Kinh dương vương, xưng hiệu là Lạc long quân.
Lạc long quân lấy Âu cơ, đẻ ra một cái bọc chứa một trăm quả trứng, nở ra một trăm người con. Có sách thì ghi một trăm người con này bao gồm một nửa là con giai, còn một nửa là con gái, cũng có sách lại chép tất cả đều là đực rựa.
Ngày kia, Lạc long quân nói với Âu cơ :
- Ta là dòng dõi Long quân, tức là vua rồng. Còn khanh là dòng dõi thần tiên. Cả hai ăn ở lâu với nhau e rằng không ổn. Nay đã được một trăm đứa con, khanh hãy đưa năm mươi đứa lên núi, còn trẫm sẽ dẫn năm mươi đứa xuống biển.
Từ truyền thuyến này mà người Việt Nam chúng ta thường vốn tự hào vì mình có “long phụ tiên mẫu”, cha rồng mẹ tiên. Hay mình thuộc về dòng “tiên long”, thuộc về giống tiên rồng.
Và như thế, đã là người Việt Nam, sinh ra và lớn lên trên quê hương này, ai mà chẳng lấy làm vinh dự về cội nguồn ấy, và ai mà chẳng thích mơ…làm rồng.
Rồng là một con vật được mọi người yêu quí.
Trong khi đó, dưới chế độ quân chủ, thì nhà vua là người “ngon lành” nhất trong cả và đất nước. Chính vì vậy, hình ảnh con rồng vốn thường được dùng làm biểu tượng cho nhà vua, cũng như tất cả những gì thuộc về nhà vua…đều được gắn nhãn hiệu chữ “long” lên đầu.
Trước hết về hình dong bên ngoài của nhà vua, chúng ta ghi nhận : long thể nghĩa là thân thể của nhà vua. Vì thế mỗi khi nhà vua cảm cúm, nhức đầu sổ mũi và…hắt xì, người ta liền bảo rằng :
- Chết chửa, long thể lại bất an rồi.
Rồi long nhan nghĩa là khuôn mặt nhà vua. Không hiểu long tu có phải là râu của nhà vua, hay chỉ là một giống lan rừng ?
Tiếp đến là những đồ vật lỉnh kỉnh bên cạnh nhà vua. Thôi thì đủ thứ : long sàng là giường cho nhà vua nằm, long bào là áo cho vua mặc, long án là bàn cho vua viết, long xa là xe cho vua đi và long châu là thuyền cho vua ngự…
Chẳng hiểu còn bao nhiêu thứ “long” nữa thì gã xin khất vào một dịp khác sẽ kê đơn hoàn tán sau, chứ bây giờ mà phải kể tất tật ra thì e rằng bản thân gã sẽ phải…long đong lắm lắm.
Có lẽ cũng vì phẩm chất cao quí này mà ngày xưa những chiếc kiệu của các xứ đạo ngoài Bắc đều được sơn son thếp vàng và hai đòn khiêng đều mang hình con rồng, điều đó nói lên rằng cha ông chúng ta muốn dành cho Thiên Chúa, cho Đức Mẹ hay cho các thánh vinh dự số một.
Âu cũng là một cách “hội nhập văn hóa” hết xảy của các bậc tiền bối. Xin “khẩu phục tâm phục”.
Từ những điều vừa trình bày, thì nhà vua hẳn là người mơ làm rồng nhiều nhất. Tuy nhiên, giấc mơ này không phải chỉ là độc quyền dành cho nhà vua, bởi vì dân gian cũng muốn xí phần và ăn có, hay nói một cách nghiêm túc hơn, cũng muốn chia sẻ tí đỉnh giấc mơ này, nghĩa là cũng muốn được làm rồng, được gặp rồng, hay ít nữa là được giống rồng…
Trước hết là kẻ sĩ trong xã hội ngày xưa.
Đây là giai cấp học rộng biết nhiều, luôn vâng theo những lời dạy bảo của Khổng tử : khi thì ở ẩn để mà tồn tâm dưỡng tánh, khi thì nhập thế để mà hành động, khi thì xuất thế để mà về hưu.
Chính vì vậy, khi thời cơ thuận lợi đến, kẻ sĩ tự mơ thấy mình chính là rồng gặp được mây, nên tha hồ mà vùng vẫy để phục vụ xã hội. Chả thế mà Nguyễn công Trứ đã từng viết :
- Rồng mây khi gặp hội ưa duyên,
Đem tất cả sở tồn làm sở dụng.
Hay trong truyện “Phan trần” cũng có câu :
- Bây giờ cha tuổi tác này,
Mong con gặp hội rồng mây kịp người.
Ăn theo với kẻ sĩ chính hiệu con nai vàng là các cụ đồ.
Giấc mơ của các cụ đồ thì khiêm tốn hơn, chỉ mong sao cho nét bút của mình được lả lướt, được mát mắt thiên hạ để mọi người ưa thích, hầu kiếm tí tiền còm khi ngồi viết câu đối vào mỗi dịp tết đến, như Vũ đình Liên đã mô tả trong bài “ông đồ già” :
- Mỗi năm hoa đào nở,
Lại thấy ông đồ già,
Bày mực tàu giấy đỏ,
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết,
Tâm tắc ngợi khen tài,
Hoa tay thảo những nét,
Như phượng múa rồng bay…
Ngoài ra, những kẻ tài giỏi, giàu sang hay quyền thế cũng thích mơ được làm rồng, hay tự đồng hóa mình với…rồng.
Chẳng hạn như một anh chồng tài giỏi và ranh mãnh, chẳng may vớ phải một cô vợ dốt đặc cán mai làu táu. Khi “phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng” đã hết và tuần trăng mật cũng đã tan, bước vào đời thường, lúc phải đối mặt với cái ngây ngô ngốc nghếch của vợ, hẳn anh ta đã phải quát tháo :
- Ngu chi ngu lạ, ngu vừa vừa thôi chứ, để cho con người ta còn ngu nữa với.
Và nếu biết ca vọng cổ, anh sẽ quai mồm ra mà hét :
- Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu bực mình.
Còn nếu như kẻ có tí quyền hay tí chức mà rộng tay ban phát ơn huệ hay đích thân thăm viếng một kẻ khố rách áo ôm, thì lúc bấy giờ chẳng khác gì “rồng đến nhà tôm” vậy.
Hồi trước năm 1975, cũng khối kẻ thích mơ làm rồng.
Nếu gã nhớ không lầm thì hãng hàng không Việt Nam lúc bấy giờ cũng đã lấy hình con rồng làm biểu tượng cho mình, chắc hẳn quí vị đứng đầu hãng này mong muốn cho máy bay của mình bay như rồng. Vì thế, những tên nhà báo nham nhở liền gán cho hãng này cái tên không mấy đẹp đẽ, đó là “E rồng lộn”.
Và hình như huy hiệu của ông Nguyễn văn Thiệu ngày nào cũng có vẽ hình con rồng. Chắc hẳn là ông tổng thống này khoái mơ được làm rồng, thậm chí biết đâu còn khoái mơ được làm một ông vua. Chả thế mà dinh Độc lập, bây giờ gọi là dinh Thống nhất, nơi ông ăn ở và làm việc, vốn được cánh báo chí gọi đùa là…”phủ đầu rồng”.
Mình mơ làm rồng đã đành, mà hơn thế nữa, còn muốn cho những người mình yêu, mình thương cũng sẽ trở thành rồng.
Sở dĩ như vậy là vì “yêu nên tốt, ghét nên xấu”. Khi đã “chịu đèn” mí nhau rồi, thì củ ấu cũng tròn, trái bồ hòn cũng ngọt và một trăm chỗ lệch cũng được kê cho bằng.
Chính vì thế, cô vợ dù có xấu đến đâu chăng nữa, thì anh chồng cũng vẫn cứ hít hà khen lấy khen để :
- Lỗ mũi thì tám gánh lông,
Chồng thương chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng thương chồng bảo ngáy cho vui nhà,
Đi chợ mất tám tiền quà,
Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm…
Lông mũi nàng mà anh chồng cứ mơ tưởng là râu rồng, thì quả là tuyệt vời và hết ý.
Chỉ khi nào không còn thương, hay là thương không nổi nữa, thì anh ta bèn quay phắt 180 độ như thiên hạ vốn diễn tả :
- Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
Còn chị vợ khác, khi thấy anh chồng của mình yếu kém về nghệ thuật nói dối, đã ăn vụng mà lại không chịu chùi mép cho sạch, thành thử chẳng dấu được ai, thì cũng đã sánh ví anh chồng…yêu quí ấy như “rồng nằm bể cạn” :
- Rồng nằm bể cạn phơi râu,
Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi.
Hầu như ở mọi nơi và trong mọi lúc, rồng đều được mặc lấy những đặc tính tốt đẹp, chỉ có một vài trường hợp là rồng đã gây nên những thảm họa cho cuộc sống. Rất may, trong những trường hợp này, thì không phải là rồng thứ thiệc, mà chỉ là một loại rồng dổm mà thôi.
Chẳng hạn như : rồng hút nước, rồng rê…đây là một hiện tượng thiên nhiên, tạo nên những cơn lốc xoáy, hút nước lên trời hay giật sập nhà cửa dưới đất của một vùng rộng lớn.
Còn khi ngồi vào bàn tiệc, mà một anh chàng phàm ăn tục uống, thuộc vào hàng “lấy cái bụng làm chúa”, chẳng thèm để ý chi tới những người chung quanh, cứ gục đầu xuống như muông chim, thoải mái húp canh chùn chụt, chắc hẳn sẽ được thiên hạ kê ngay tủ đứng vào miệng :
- Ăn uống chi mà cứ như rồng cuốn…không chừng nuốt phăng cả bát đĩa và bàn ghế.
Qua những điều được bàn rộng tán dài, chúng ta thấy dân Việt Nam rất khoái rồng. Không phải chỉ các cụ ngày xưa mới thích mơ làm rồng, mà hơn thế nữa, ngày hôm nay từ quan cho chí dân, từ ông nhà nước cho đến anh nông dân, tất cả chúng ta không phải chỉ mơ làm rồng mà còn cố gắng biến giấc mơ này trở thành sự thật. Nghĩa là đất nước chúng ta phải trở thành một con rồng trong lãnh vực kinh tế, không đại long thì chí ít cũng phải tiểu long, không rồng lớn thì chí ít cũng phải rồng nhỏ, không toàn cầu thì chí ít cũng phải trong vùng Đông nam á.
Người Việt Nam chúng ta về chỉ số thông minh không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Cộng thêm vào đó là đức tính cần cù siêng năng. Đất nước lại nhiều tài nguyên. Đó là những điều kiện thuận lợi để hóa rồng.
Cách đây chừng bốn mươi năm, nếu gã không lầm, thì Thái lan, Malaysia, Indonesia, ngay cả Singapore và Đại hàn cũng chả là cái thá gì đối với Việt Nam.
Mức thu nhập bình quân đầu người của dân ta cũng đâu quá tệ so với họ. Lúc bấy giờ Việt Nam mình chỉ kiêng nể mỗi một anh chàng Nhật bản mà thôi.
Nhưng rồi chiến tranh leo thang, suốt hai mươi năm dân ta lo bịch nhau, thì họ đã đặt được nền tảng vững chắc cho sự phát triển. Tiếp theo là hai mươi năm dân ta loay hoay mò mẫm tìm cho ra một đường lối kinh tế, thì họ đã bước được những bước tiến khổng lồ. Thành thử cho đến bây giờ dân ta vẫn còn là một dân nghèo…rớt mùng tơi. Trong khi đó, họ đã vươn mình trở thành những con rồng kinh tế trong vùng.
Chính vì thế, dân ta cũng muốn noi gương bắt chước họ, vươn mình trở thành rồng. Thế nhưng việc hóa rồng không phải là một việc dễ dàng và chóng vánh một sớm một chiều. Trái lại, đó là một việc đòi hỏi nhiều cố gắng của tất cả trong mọi lãnh vực qua nhiều tháng nhiều năm. Nhưng ưu tiên phải là lãnh vực con người.
Thực vậy, nếu cán bộ còn tham nhũng và hối lộ, ăn gian và ăn cắp, nếu học sinh còn quay và cóp, nếu thiên hạ còn bán bằng cấp giả, nếu người sản xuất còn tung ra thị trường những mặt hàng dổm thiếu chất lượng, nếu những người buôn bán còn thiếu thành thật trong việc cân đo đong đếm, nếu bộ giáo dục còn chưa có được một chương trình đào tạo hợp tình và hợp lý…thì không hiểu đến đời thuở nào đất nước này mới hóa rồng được hay mãi mãi chỉ là một loài...bò sát.
Vì thế, để nền kinh tế Việt Nam được trở thành một con rồng trong khu vực, thì con người Việt Nam phải hóa rồng trước đã, nghĩa là phải mặc lấy những phẩm chất cao quí của rồng.
Bàn về chuyện “chính chị chính em”, kinh bang tế thế sao mà thấy nhức cái đầu quá, gã xin nói đến chuyện con nít.
Phải thành thực mà công nhận rằng : trẻ nhỏ ngày nay có rất nhiều đồ chơi và trò chơi. Có những em đã dành khá nhiều thời giờ, thay vì ngồi học bài và làm bài, thì lại ngồi trước màn hình với những trò chơi điện tử. Bấm loạn cào cào. Kéo lên kéo xuống như điên. Mà phần lớn lại những trò chơi này lại nghiêng về bạo lực : nào mìn, nào bom, nào súng, nào đạn…nào bắn, nào đấm, nào đá…Và gã bỗng thấy thương cho tuổi thơ bây giờ.
Không như ngày xưa, lúc gã còn nhỏ. Hồi đó chỉ toàn là những trò chơi dân gian hay tự biên tự diễn. Những trò chơi mang nặng tính cách nhân bản và đẹp như một bài thơ, vì đôi khi có cả vần cả điệu.
Chẳng hạn như chơi chuyền :
- Đôi tôi, đôi chị, đôi cành bị, đôi cành hoa.
Đôi lên tư, đôi ông sư, đôi bà vãi…
Chẳng hạn như chơi pháo :
- Pháo kêu vang, cả làng chịu chưa ?
Chẳng hạn như chơi ô quan :
- Hết quan, tàn dân, thu quân, bán họ.
Phe con gái kẹp tóc thì chơi chuyền, chơi trải gianh, chơi ô quan, chơi nhảy giây, nhảy cò cò, chơi chồng nụ…Phe con trai húi cua thì chơi khăng, chơi đáo, chơi pháo, chơi bi, chơi quay, chơi diều…
Tuy thế nhưng lại rất phong phú, bởi vì mùa nào thì chơi trò nấy. Và có những lần gã đã trở thành…rồng.
Thực vậy, vào những đêm trăng sáng, bọn nhóc tì xếp hàng trên một khoảng sân rộng. Đứa sau ôm eo đứa trước kết thành rồng, còn một đứa được chỉ định làm ông thày thuốc.
Bắt đầu trò chơi, xấp nhỏ rồng rắn tung tăng nhảy quanh sân, vừa đi vừa đọc lớn :
- Rồng rồng rắn rắn,
Lên mây có cây lúc lắc,
Hỏi ông thày thuốc,
Có nhà hay không ?
Rồi dừng lại trước mặt ông thày thuốc và ông thày thuốc liền hỏi :
-Rồng rắn đi đâu ?
Rồng rắn trả lời :
-Đi lấy thuốc cho con.
Tiếp đến là cuộc đối chất giữa ông thày thuốc và rồng rắn :
- Con lên mấy ? - Con lên một.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên hai.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên ba.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên bốn.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên năm.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên sáu.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên bảy.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên tám.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên chín.
- Thuốc chẳng ngon. - Con lên mười.
- Thuốc ngon vậy.
- Xin khúc đầu. - Những xương cùng xẩu.
- Xin khúc giữa. - Những máu cùng me.
- Xin khúc đuôi. - Tha hồ mà đuổi.
Sau đó, ông thày thuốc phải đuổi thế nào để tóm được cái đuôi con rồng. Còn con rồng thì phải hết sức ngăn chặn, để ông thày thuốc không tóm được cái đuôi của mình.
Khi nào ông thày thuốc tóm được cái đuôi, thì tên nhóc tì làm đuôi sẽ bị giáng chức xuống làm ông thày thuốc. Còn ông thày thuốc thì được nhập vào con rồng, có nghĩa là là ông thày thuốc đã hóa rồng và đã làm rồng.
Cứ thế, cứ thế…trò chơi lại được bắt đầu với tiếng trẻ thơ reo vang :
- Rồng rồng rắn rắn,
Lên mây, có cây lúc lắc,
Hỏi ông thày thuốc,
Có nhà hay không ?
Chắc hẳn trên cao ông trăng cũng phải nhoẻn miệng cười, vì có một chú nhóc lại sắp trở thành rồng đến nơi

ĐỒN THỔI - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Chả biết từ đời thuở nhà nào, trong thiên hạ đã có lời xác quyết :
- Người là một con vật có trí khôn.
Đúng thế, càng suy gẫm gã càng nhận ra sự thực tuyệt vời của câu nói ấy. Sở dĩ con người vượt trội hơn con vật là nhờ đầu óc. Thế nhưng, đầu óc mới chỉ là bình diện vật chất. Không phải cứ đầu to óc lớn mà tài giỏi. Nếu lấy khối lượng làm tiêu chuẩn thì hẳn con bò phải ăn đứt con người, thế mà chúng ta vẫn bảo :
- Ngu như bò.
Và chúng ta cũng thường kết án :
- To đầu mà dại.


Cái làm nên chất lượng cao cho đầu óc con người chính là trí khôn. Nhờ trí khôn, con người mới có được những tư tưởng hay ho, rồi từ đó nảy sinh những việc làm tốt đẹp, bởi vì tư tưởng thì hướng dẫn cho hành động.
Nhờ trí khôn, con người mới có được những phát minh làm đổi thay bộ mặt trái đất.


Chẳng hạn trong lãnh vực ăn, ngày xưa người ta ăn sống nuốt tươi, thế mà hôm nay đã có hằng hà sa số những thứ cao lương mỹ vị. Cứ chiều chiều đi dạo phố Saigon, người ta ghi nhận được biết bao nhiêu nhà hàng, biết bao nhiêu quán ăn, biết bao nhiêu... làng nướng mọc lên khắp nơi, khói tỏa nghi ngút, hương thơm ngào ngạt làm điếc mũi hàng xóm và khách qua đường.


Chẳng hạn trong lãnh vực uống, ngày xưa người ta uống nước lã cầm hơi, thế mà hôm nay đã có muôn vàn thứ rượu. Quê hương Việt Nam chúng ta vốn còn nghèo nàn và nhiều người vốn còn thiếu ăn, thế nhưng nếu bây giờ người ta hỏi gã :
- Có bao nhiêu thứ bia trên đất nước này ?


Gã đành bó tay chào thua, chẳng thể trả lời được, bởi vì hầu như tất cả các thứ bia nổi tiếng trên thế giới, cũng như những thứ bia vô danh tiểu tốt chả ai biết đến đều có mặt tại vùng đất khốn khổ này, hơn thế nữa lại còn liên tục phát triển và không ngừng vươn lên.


Chẳng hạn trong lãnh vực ở, ngày xưa người ta ở hang ở lỗ, thế mà hôm nay đã có cơ man nào những ngọn tháp, những tòa nhà chọc trời, cao hằng mấy trăm mét, đứng ở dưới mà nhìn lên, cứ tưởng chúng đụng tới mây và làm cho mình hoa cả mắt, chóng cả mặt.


Trong khi đó, con vật thì vẫn cứ giậm chân tại chỗ, trước sao sau vậy, chẳng tiến bộ được một ly ông cụ nào cả.


Chẳng hạn con cọp thì vẫn cứ ăn sống nuốt tươi, con chuột thì vẫn cứ chui hang chui hốc, con chim thì vẫn cứ xơi những hạt lúa rụng và tha những cọng rơm về làm tổ.


Chỉ riêng con người là không ngừng phát triển về đủ mọi phương diện. Sở dĩ như vậy cũng chỉ vì con người có trí khôn.
Một trong những sinh hoạt chính của trí khôn, đó là suy nghĩ. Chẳng thế mà Pascal đã bảo :
- L’homme est un roseau pensant, con người là một cây sậy biết suy nghĩ.
Và chính Pascal còn đã khẳng định thêm :
- Je pense, donc je suis, tôi suy nghĩ, vậy tôi hiện hữu.
Cái làm nên con người tôi, cái làm nên cuộc sống tôi, đó là sự suy nghĩ. Nếu tôi sống mà không suy nghĩ, thì kể như đã tiêu tùng từ lâu và không còn là tôi nữa.


Bây giờ, gã xin “xì tốp” những chuyện triết lý trên mây trên gió ấy để chỉ nói tới những chuyện đời thường mà thôi, bởi vì gã chẳng được học chuyên sâu về môn này, kẻo lắm kẻ thối mồm lại bĩu môi, chu mỏ mà bảo :
- Ban môn lộng phủ, múa bút trước cửa nhà Lỗ Ban.
Được diễn nôm thành :
- Đánh trống qua cửa nhà sấm.
Hay :
- Múa rìu qua mắt thợ.
Trong những lúc ngồi suy tư mông lung, chúng ta ít khi nghĩ đến những sự trên trời, mà hay nghĩ đến những sự dưới đất, chúng ta cũng ít nghĩ đến chuyện mình, mà hay nghĩ đến chuyện người. Rồi sau đó, đưa ra những nhận định và những đánh giá.


Chúng ta giống như người đeo hai cái giỏ. Cái giỏ trước ngực đặt những sai lỗi của của người khác, còn cái giỏ sau lưng đặt những sai lỗi của bản thân. Vì thế, chúng ta thường nhìn thấy rất rõ những sai lỗi của người khác, rồi lên tiếng phê bình và chỉ trích một cách gắt gao. Còn những sai lỗi của bản thân thì lại chẳng nhìn thấy. Và nếu có nhìn thấy chăng nữa, thì cũng sẽ đưa ra một ngàn lẻ một lý do để bào chữa, để biện minh : vì... tại... bởi... Chúng ta thường khắt khe đối với người khác mà khoan dung với bản thân, đáng lẽ ra, chúng ta phải khoan dung với người khác mà khắt khe đối với chính bản thân mình.


Tuy nhiên, những nhận định và đánh giá của chúng ta rất ít khi vô tư và chính xác, bởi vì chúng ta thường bị chi phối bởi nhiều lý do khác nhau.
Trước một sự việc, mỗi người đều có một cái nhìn riêng và một phán quyết riêng, đúng như tục ngữ đã bảo :
- Năm người, mười ý.
Ngày nọ, có hai cha con nhà kia dắt một con lừa ra chợ để bán. Người cha ngồi chễm chệ trên lưng lừa, còn đứa con đi bộ theo sau. Khách qua đường thấy thế bèn nói :
- Người cha gì mà không biết thương con! Ngồi chễm chệ trên lưng lừa trong khi đứa con phải đi bộ.
Nghe vậy, người cha bèn nhảy xuống khỏi lưng lùa và nhường cho con cưỡi. Đi được một chốc, hai cha con lại nghe khách qua đường chỉ trích :
- Đồ con bất hiếu, còn trẻ mà ngồi ung dung trên lưng lừa, trong khi cha thì già mà lại phải cuốc bộ.
Nghe vậy, hai cha con mới bảo nhau :
- Chỉ còn một cách để cho thiên hạ khỏi bàn ra tán vào, đó là cả hai cha con ta cùng cưỡi.
Thế là hai cha con cùng leo lên lưng lừa. Nhưng vừa đi được một quãng, họ lại nghe thấy một lời chỉ trích khác :
- Rõ là phường vô nhân đạo! Làm sao con lừa gầy chịu đựng nổi một sức nặng như thế.
Nghe vậy, hai cha con lại vội nhảy xuống khỏi lưng lừa. Thế nhưng cũng chỉ một lúc sau, có người lại phê bình :
- Rõ là đồ ngu dốt. Có lừa mà không dám cưỡi lại phải đi bộ.
Hai cha con không biết làm sao, đành phải nai lưng khiêng con lừa đến chợ.


Câu chuyện này làm cho gã nhớ tới một câu ca dao của người Việt Nam chúng ta :
- Ở sao cho vừa lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn,
Béo chê béo trục, béo tròn,
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra.


Sở dĩ có những cái nhìn riêng và những phán quyết khác biệt như thế, bởi vì khi nhận định và đánh giá, chúng ta thường chủ quan, bị tình cảm chi phối, theo kiểu :
- Yêu nhau củ ấu cũng tròn,
Trái bồ hòn cũng ngọt.


- Yêu nhau cau bảy bổ ba,
Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.


- Yêu ai yêu cả đường đi,
Ghét ai, ghét cả tông chi họ hàng.


Ngày xưa, bên nước Tống có một người rất giàu. Ông xây tường cao chung quanh nhà để đề phòng kẻ gian xâm nhập. Một hôm mưa to và gió lớn, cuồng phong và bão táp nổi lên, khiến một cây cổ thu ïbên đường bị đổ và làm sập mất một khoảng tường. Người con thấy thế bèn nói :
- Xin cha cho xây tường lại ngay đi, nếu không kẻ trộm sẽ lẻn vào mất.
Người láng giềng thấy vậy cũng đề nghị :
- Này bác, không xây lại ngay thì e rằng sẽ có trộm.
Tường chưa kịp sửa, thì ngay đêm hôm đó, nhà ông phú hộ bị kẻ trộm viếng thăm. Sáng ra khi hay nhà mất trộm, ông khen người con là khôn ngoan, nhìn xa trông rộng, biết trước mọi sự. Trong khi đó, ông lại nghi ngờ người hàng xóm là gian xảo, lợi dụng thời cơ, xâm nhập gia cư, lấy trộm đồ đạc nhà ông.


Cũng vậy, ngày xửa ngày xưa ở bên Tàu có một ông quan rất được nhà vua sủng ái, mà gã quên béng mất tên rồi. Ngày kia, thiên hạ đem dâng cho nhà vua một món sơn hào hải vị. Thấy vậy, ông quan này bèn xơi trước một bát. Nhà vua nghe biết liền khen :
- Rõ thật là bậc trung thần, ăn trước để xem trong món sơn hào hải vị ấy có thuốc độc hại trẫm hay không.
Thời gian sau, ông quan này bị thất sủng. Ngày kia, thiên hạ cũng đem dâng cho nhà vua một món sơn hào hải vị. Thấy vậy, ông quan này cũng xơi trước một bát. Khi nghe biết, nhà vua bèn đùng đùng nổi giận và quát mắng :
- Rõ thật là đồ khinh quân phản phúc, dám xơi trước, chẳng còn kính nể gì trẫm nữa. Không những phải tội chết, mà còn phải tru di tam tộc.
Nói thế rồi, nhà vua bèn truyền lệnh :
- Lính đâu ? Chém đầu.
Những câu chuyện trên làm gã nghĩ tới lời cha ông chúng ta đã xác quyết :
- Yêu nến tốt, ghét nên xấu.
Hay như dân tây thường bảo :
- C’est la vie!!! Đời là thế!!!
Tuy nhiên, khi nhận định và đánh giá người và việc, ngoài yếu tố tình cảm, chúng ta còn bị bị tâm trạng cũng như hoàn cảnh, những yếu tố bên trong cũng như bên ngoài chi phối nữa, như Nguyễn Du đã từng viết :
- Cảnh nào, cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ.
Ông du khách lái xe phom phom từ Nha Trang lên Đàlạt, khi qua khỏi đèo Ngoạn Mục, người ta hỏi :
- Ông thấy Nha Trang thế nào ?
Ông mỉm cười và nói :
- Nha Trang hở ? Gió biển mát mẻ, con người vui vẻ, quả là một địa điểm du lịch tuyệt vời.
Người ta hỏi tiếp :
- Ông lên Đàlạt, vậy ông nghĩ gì về thành phố này ?
Ông trả lời :
- Tôi hy vọng Đàlạt cũng sẽ tuyệt vời như vậy và còn hơn vậy nữa.
Lúc sau, một ông du khách khác lái chiếc xe cà rịch cà tàng, từ Nha Trang lên Đàlạt. Bò mãi mới leo tới đỉnh đèo Ngoạn Mục, người ta hỏi :
- Ông thấy Nha Trang thế nào ?
Ông nhăn nhó và nói :
- Nha Trang ư ? Khí hậu oi bức, con người cục súc. Quả là một nơi du lịch tồi tệ.
Người ta hỏi tiếp :
- Ông lên Đàlạt, vậy ông nghĩ gì về thành phố này ?
Ông trả lời :
- Tôi cho rằng Đàlạt cũng sẽ tồi tệ như vậy, mà còn hơn vậy nữa.
Sau cùng, khi nhận định cũng như đánh giá người và việc, nhiều khi chúng ta còn cố tình để cho những ý đồ đen tối lộng lành mà vo tròn bóp mép sự thật.


Đúng thế, bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều mang lấy một chút tự ái, một chút tự cao, một chút tự đại... Bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều bị tính kiêu căng len lỏi vào từng ngõ ngách tâm hồn.


Khi người khác gặp phải tai ương hoạn nạn, có thể bên ngoài chúng ta ủ rũ như treo cờ tang, nhưng bên trong lại khấp khởi mừng thầm :
- Cho mày chết.
Khi người khác phạm phải một sai lỗi nào đó. Thay vì tìm hiểu để có được một thái độ cảm thông, chúng ta bèn vội vã lên tiếng kết án một cách nghiệt ngã như muốn đạp họ xuống tận bùn đen và giám tiếp nói rằng mình tốt hơn họ bội phần :
- Tôi không như vậy đâu.
Đúng như tục ngữ đã bảo :
- Chân mình những lấm mê mê,
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.
Hơn thế nữa, những nhận định và đánh giá của chúng ta vốn thường sai lầm, bởi vì chúng ta không hiểu rõ được hoàn cảnh của họ, cũng như những lý do thầm kín đã chi phối hành động của họ.
Một cô gái bán dâm, hành động ấy chắc chắn phải là một hành động xấu, nhưng biết đâu cô gái ấy lại có những lý do chính đáng để được giảm nhẹ, chẳng hạn như cô gái ấy đang cần một số tiền để mua thuốc chữa bệnh cho mẹ già sắp chết.


Một ông chồng khô khan nguội lạnh, chẳng hiểu buồn vì chuyện gia đình lục đục hay chuyện làm ăn thất bại, mà ngày nọ đã nhảy xuống sông tự tử. Mọi người đều tin rằng ông ấy đã mất linh hồn, chết sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp.


Thế nhưng, nào có ai hay ông ấy vốn kính mến Đức Mẹ. Thứ bảy đầu tháng nào, ông cũng dâng lên Mẹ những bông hoa tươi. Chính vì thế, ông đã được ơn ăn năn vào giây phút cuối cùng, như lời thánh Vianney đã nói với bà vợ của ông :
- Giữa cây cầu và dòng sông có một khoảng cách. Khoảng cách ấy tuy nhỏ nhưng cũng đã đủ để ông ta sám hối. Và chính khoảng cách nhỏ này cấm chúng ta không được xét đoán liều lĩnh.
Khi tỏ lộ những nhận định, những đánh giá chủ quan và sai lạc của mình cho thiên hạ biết, là chúng ta đã tạo nên và tung ra những tin đồn. Vì thế, trong tự điển người ta đã định nghĩa :
- Đồn là nói chuyền cho nhiều người biết.
- Tin đồn là tin không chắc chắn do nhiều người rỉ tai cho nhau.
Chẳng hạn trong ca dao có câu :
- Cúc mai trồng lộn một bồn,
Chúng mình chồng vợ, ai đồn mặc ai.


Còn sau khi nhận được một tin đồn, chúng ta nói lại cho người khác, thì lúc bấy giờ chúng ta chẳng khác gì kẻ đang phùng má trợn mắt thổi cho tin ấy lan nhanh.
Vì thế, người ta mới gọi là đồn thổi. Đã đồn thì phải thổi để cho tin ấy được bay đi khắp bốn phương trời :
- Tiếng lành đồn xa,
Tiếng dữ đồn ba ngày đường.
Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khi chúng ta đã phải ngậm đắng nuốt cay mà nhận ra rằng :
- Đồn về tiếng lành thì chẳng bao nhiêu, còn thổi về tiếng dữ thì lại quá nhiều, chẳng thể nào kể ra cho xiết.


Tin đồn thường không đúng với sự thật. Chính vì tính cách “thất thiệt” này mà tin đồn do chúng ta tung ra, hay do chúng ta thổi cho nó bay đi xa, đã giết hại biết bao nhiêu người ngay lành và thiện chí mà nhiều khi chính chúng ta cũng chẳng thèm biết đến.


Bà chị của gã lấy chồng. Anh ấy là cảnh sát cấp “nhớn”. Hai người có với nhau ba mặt con. Rồi anh ấy được “bốc” đi mình ên trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Suốt quãng thời gian dài, chị đã không nhận được một tin tức hay có một liên hệ gì với anh. Một sự thinh lặng quả là dễ sợ. Và cũng trong khoảng thời gian đằng đẵng ấy, người ta đã đồn rằng :
- Anh ấy bị chết chìm giữa biển khơi vì tàu bị đắm.
- Anh ấy bị đụng xe bên Mỹ và đã được mai táng tại nghĩa trang...
Và tệ hơn nữa :
- Anh ấy đã lấy vợ và đã có con.


Những tin đồn vô căn cứ này làm cho chị héo hắt và quay quắt. Chị âm thầm nuốt những giọt nước mắt cay đắng, ra sức làm lụng vất vả để nuôi dạy ba đứa con. Cho tới ngày nhận được lá thư, trong đó anh cho biết mình đang xúc tiến thủ tục đón chị và các con qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình.
Dầu vậy, chị vẫn còn bán tín bán nghi, nên đã viết và đặt thẳng vấn đề với anh :
- Thế thì qua Mỹ, mẹ con em sẽ ở với ai, bởi vì người ta đồn rằng anh đã lấy vợ và đã có con.
Một câu chuyện khác kể lại rằng :
Tại một thị trấn nhỏ, chàng thanh niên kia có những triệu chứng và biểu hiện khác thường. Sau khi khám nghiệm, các bác sĩ “nghi ngờ” anh ta mắc phải bệnh phong cùi.
Tuy không phải là một phán quyết dứt khoát, nhưng kể từ đó mọi người bắt đầu xa tránh anh ta, nhìn anh ta với con mắt kinh hãi và ghê tởm vì sợ bị lây lan, vì thế anh ta không dám ra khỏi nhà và cũng chẳng dám tiếp xúc với một ai. Ngay cả những người thân trong gia đình cũng cho rằng anh đã mắc phải chứng bệnh khủng khiếp đó.


Và để che dấu con người bị coi như một nỗi tủi nhục và xấu hổ chung, họ đã nhốt anh ta vào một căn phòng nhỏ và khóa chặt. Chàng thanh niên đáng thương ấy chỉ còn sống vất vưởng nhờ mấy chén cơm được đưa vào mỗi ngày. Vũ trụ của anh ta chỉ còn là căn phòng nhỏ với bốn bức tường khép kín. Ngậm đắng nuốt cay từng giây từng phút, anh ta chỉ còn một hy vọng duy nhất, đó là trốn thoát khỏi căn phòng giam của chính mình.


Ngày nọ, anh ta đã lẻn được ra ngoài, nhưng chẳng may, gia đình đã kịp thời phát giác và lại tống anh ta vào căn phòng nhỏ. Lần này, chàng thanh niên khốn khổ ấy dường như không còn một tia hy vọng nào nữa. Anh ta chỉ muốn tìm sự giải thoát qua cái chết mà thôi.


Lần thứ hai, anh trốn khỏi vũ trụ tăm tối của mình. Nhưng lang thang mãi trên đường phố mà vẫn không tìm được một sự tin tưởng và giúp đỡ của những người chung quanh, vì đi tới đâu anh ta cũng đều bị chối từ. Và thế là anh ta quyết định tìm đến cái chết như một lời biện hộ cuối cùng.


Anh ta đã mua thuốc ngủ và tự tử trước mặt mọi người. Cái chết của anh ta đã gây chấn động trong dư luận. Người ta yêu cầu khám nghiệm tử thi. Và kết quả cuộc khám nghiệm đã làm cho mọi người chưng hửng và sửng sốt :
- Anh ta chẳng hề mắc phải bệnh phong cùi.
Một khi tin đã được tung ra, một lời đã được đồn thổi, thì không thể nào thu hồi lại được, cũng như không thể nào đền bù những thiệt hại tinh thần lẫn vật chất mà chúng đã gây nên.
Có một người đàn bà vào tòa cáo giải và xưng tội nói hành nói xấu của mình. Cha giải tội bèn ra việc đền tội :
- Con hãy mua một con gà giò, ôm nó vào lòng và đi khắp thành phố. Vừa đi vừa nhổ lông nó.
Tuần sau, người đàn bà lại vào tòa cáo giải và lại xưng tội nói hành nói xấu. Cha giải tội hỏi :
- Lần trước, con đã làm việc đền tội chưa ?
- Thưa cha, rồi ạ.
- Vậy việc đền tội lần này, đó là con hãy đi lại những con đường đã đi hôm trước và nhặt đưa về cho cha hết tất cả những chiếc lông con gà.
- Nhưng thưa cha, gió đã thổi bay chúng hết rồi.
- Cũng thế con ạ, con không thể nào thu hồi lại những lời nói hành nói xấu của con, bởi vì chúng đã được chuyền từ miệng người này tới miệng người kia.
Chẳng thế mà các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy. Một lời nói ra khỏi miệng, bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp.


Đừng bao giờ tự mình tung ra những tin đồn thất thiệt. Cũng như đừng bao giờ tiếp tay bằng cách thổi cho những tin đồn thất thiệt ấy bay đi khắp nơi, khắp chốn.
Trái lại, hãy là bờ cát vàng, để những con sóng đồn đại xô tới chúng ta, lập tức sẽ bị tan thành những đám bọt trắng hiền hòa, không còn mang lấy những tác dụng độc hại của chúng nữa.

CÁI TÌNH LÀ CÁI CHI CHI - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Bàn về tình yêu, người ta thường bảo :
- Tình yêu thì cũ như trái đất, nhưng lại đổi mới như mỗi độ xuân về.
Xem ra gã không nhất trí với nhận xét này cho lắm, bởi vì trái đất vào thuở ban sơ, chưa một bóng người, giống như mặt trăng hay sao hỏa bây giờ, thì đào đâu cho ra được tình yêu. Tình yêu là lãnh vực của con người. Vì thế, phải có con người thì mới có tình yêu.
Đây cũng là điều sách Sáng Thế Ký đã mô tả. Thượng Đế lấy bùn đất tạo nên hình hài Adong, rồi thổi phù một cái để phú ban cho Adong tấm linh hồn. Và từ đó, Adong sống động như chúng ta bây giờ. Ngài để Adong ở trong vườn địa đàng, một nơi cư ngụ thật tuyệt vời, đầy ắp những hoa thơm cỏ lạ, ríu rít những tiếng chim kêu vượn hót và ve ngâm.
Thế nhưng, Ngài vẫn cảm thấy như có một điều gì đó bất ổn, một điều gì đó trục trặc…Suốt ngày Adong lủi thủi một mình, cô đơn đếm từng bước chân âm thần trên sỏi đá, hái những trái cây chín ngọt mà nuốt chẳng vô.
Lúc bấy giờ Thiên Chúa mới “ngộ ra” điều bất ổn, điều trục trặc ấy. Ngài vỗ trán đánh đét một phát, rồi lẩm bẩm :
- À, thì ra thế. Anh đờn ông ở một mình không tốt. Ta hãy dựng nên cho nó một người bạn đường tương xứng với nó.
Nói là làm. Đợi lúc Adong ngủ say, Thượng Đế bèn lấy một chiếc xương sườn của Adong mà dựng nên Evà, chị đờn bà đầu tiên. Sau đó, Ngài dắt Evà tới ra mắt Adong. Vừa nhìn thấy Evà, Adong đã mừng rỡ kêu lên :
- Này đây xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi.
Nếu diễn tả bằng ngôn ngữ bình dân Việt Nam, hẳn Adong đã hồ hởi gọi lớn :
- Mình ơi ! Mình ơi !
Hai chữ “mình ơi” này sao mà ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Evà nghe xong cũng cảm thấy ấm cả cõi lòng. Đồng thời, với hai tiếng “mình ơi” đầy trìu mến này, tình yêu đã anh dũng đi vào nhân loại và chiếm ngự mặt địa cầu.
Suốt dòng thời gian, tình yêu vẫn liên tục phát triển. Làm sao kể cho hết những bài thơ, những bản nhạc, những câu chuyện, những cuốn sách, những bức tranh, những pho tượng, những phim ảnh, những tuồng kịch…nói về tình yêu.
Thế nhưng, nếu có ai lỡ dại mồm dại miệng mà lên tiếng hỏi :
- Tình yêu là đí gì ?
Chắc hẳn chẳng một ai trong chúng ta đưa ra được một định nghĩa đầy đủ và chính xác về tình yêu. Như thế, tình yêu mãi mãi vẫn là một mầu nhiệm. Thành thử một ông thi sĩ nào đó đã thất vọng kêu lên một cách não nùng và bi đát :
- Đố ai định nghĩa được tình yêu,
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều.
Và một nhà thơ cổ đã đưa ra một nhận xét thật chí lý :
- Cái tình là cái chi chi,
Dầu chi chi, vẫn chi chi với tình.
Đúng thế, mặc dù không hiểu tình yêu là đí gì, thế mà người ta vẫn cứ phây phây sống tình yêu. Mặc dù chẳng biết cái tình là cái chi chi, thế mà người ta vẫn cứ chi chi với tình.
Vậy phải sống tình yêu như thế nào, phải chi chi với cái tình ra làm sao ?
Các cụ ta ngày xưa đã khuyên nhủ bày trẻ :
- Học ăn, học nói, học gói, học mở,
Điều đó có nghĩa là chúng ta phải học từ những cái đơn sơ và tầm thường, đến những cái phức tạp và quan trọng. Phải học tuốt luốt, bất cứ sự gì, huống nữa là tình yêu, một vấn đề vừa cần thiết, vừa phức tạp, lại vừa tế nhị.
Có những người đã già cái đầu, gần đất xa trời rồi mà vẫn chưa biết yêu cho đúng đắn. Họ cứ tưởng mình yêu người, những hóa ra lại là yêu chính cái tôi của mình. Mà cái tôi lại thường đi đôi với cái tồi, hay nói theo kiểu Nguyễn Du :
- Chữ tồi liền với chữ tôi một vần.
Có một chàng thanh niên tới gõ cửa một nhà dòng để xin vào tu. Cha bề trên nhìn chàng hồi lâu rồi hỏi :
- Thế thì con đã yêu ai chưa ?
Chàng thanh niên đỏ mặt tía tai, ấp úng trả lời :
- Thưa cha, chưa ạ.
Cha bề trên bèn cười lớn và nói với chàng :
- Thế thì con phải trở về, học yêu trước rồi mới tới đây mà học tu sau.
Kinh nghiệm cũng cho thấy : tình yêu không ở thể tĩnh, mà luôn ở thể động, người ta không chỉ yêu một lần thay cho tất cả, trái lại phải yêu mãi, yêu hoài, có nghĩa là tình yêu phải được liên tục đổi mới, phải được liên tục phát triển, mỗi lúc một tăng, ngày hôm nay chất lượng phải cao hơn ngày hôm qua.
Giống như anh chàng và chị nàng, không phải chỉ kết hôn một lần ở nhà thờ là đã xong chuyện, nhưng hơn thế nữa, mỗi ngày họ còn phải kết hôn lại với nhau, mỗi ngày họ còn phải hâm nóng lại tình yêu.
Người ta thường phân chia tình yêu thành hai loại, đó là ấu trĩ và trưởng thành, vị kỷ và vị tha, vì mình và vì người. Vậy thế nào là một tình yêu ấu trĩ, một tình yêu vị kỷ, một tình yêu vì mình ? Còn thế nào là một tình yêu trưởng thành, một tình yêu vị tha, một tình yêu vì người ?
Với loại thứ nhất, người ta đặt cái tôi của mình lên hàng đầu. Họ giống như anh chàng Narcisse trong thần thoại Hy Lạp. Anh ta cúi xuống dòng sông và chỉ nhìn thấy khuôn mặt đẹp trai của mình trên làn nước, để rồi cuối cùng anh ta đã nhảy xuống sông mà chết. Hồn biến thành cây hoa thủy tiên mọc ở bên bờ.
Tình yêu của họ là một tình yêu vị kỷ hay vì mình bởi lẽ khi yêu họ bắt người yêu phải phục vụ cho bản thân họ, phải làm cho họ được vui sướng mà không kể gì tới những khổ đau, những tủi cực mà người yêu phải gánh chịu.
Họ giống như chị đờn bà nhìn vào cặp mắt anh đờn ông, không phải để thấy rằng cặp mắt ấy đẹp, mà chỉ để thấy hình ảnh mình được in trong cặp mắt ấy.
Tình yêu của họ là một tình yêu ấu trĩ , bởi lẽ họ giống như một đứa con nít yêu mẹ nó chỉ vì mẹ nó có một bầu sữa, sẵn sàng cho nó bú tí bất cứ lúc nào.
Trong khi đó với loại thứ hai, người ta dành địa vị ưu tiên số một cho người mình yêu.
Tình yêu của họ là một tình yêu vị tha hay vì người, bởi lẽ khi yêu họ sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, để đem lại hạnh phúc cho người họ yêu.
Họ giống như một người vợ tần tảo, đầu tắt mặt tối nuôi chồng, đã được ca dao diễn tả qua hình ảnh con cò :
- Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nàng về trở lại cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng…
- Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo xèo mặt nước buổi đò đông.
Tình yêu của họ là một tình yêu trưởng thành bởi lẽ chỉ có người đã trưởng thành mới biết quên mình và dám hy sinh vì người khác.
Họ giống như một người mẹ không quản thức khuya dậy sớm để chăm sóc cho đàn con.
Nạn đói năm Ất Dậu xảy ra tại miền Bắc, khiến cho gần một triệu người bị chết. Lúc đầu người ta còn ăn cháo, ăn rau. Về sau, ngay cả củ chuối trong vườn cũng không còn nữa để mà ăn. Đi tới đâu người ta cũng thấy những thây ma nằm la liệt, chỉ còn da bọc xương.
Có hai mẹ con nhà kia nằm thoi thóp bên vệ đường. Nghe tiếng khóc của đứa con, người mẹ đã cắt đứt đầu ngón tay, đút vào miệng đứa con, để đứa con được bú những giọt máu cuối cùng của mình thay cho dòng sữa, với hy vọng đứa con sẽ được một người tốt bụng nào đó cứu sống.
Và hy vọng này đã trở thành sự thật. Đứa con ấy đã được một người hảo tâm đi qua bồng ẵm về nhà và nuôi dưỡng, đến nay vẫn còn sống.
Sự tiến triển của tình yêu là một con đường một chiều. Hướng đi bắt buộc là phải đi từ ấu trĩ đến trưởng thành, từ vị kỷ đến vị tha, từ vì mình đến vì người.
Tuy nhiên, hướng đi này đòi buộc chúng ta phải cố gắng không ngừng. Sở dĩ như vậy vì từ bên trong, mỗi người đều mang sẵn hai yếu tố thiện và ác, vị kỷ và vị tha. Hai yếu tố này không ngừng giao tranh để dành dân chiếm đất. Chỉ cần nhắm mắt ngủ quên hay chểnh mảng một chút, lập tức cái ác sẽ thắng thế và vị kỷ sẽ lên ngôi. Đúng như ông thánh Phaolô đã bảo :
- Sự thiện tôi muốn thì tôi lại không làm. Còn điều ác tôi ghét thì tôi lại làm.
Vì thế :
- Sống là chiến đấu, là bơi ngược dòng nước, nếu không cố gắng bơi, thì sẽ bị dòng nước cuốn trôi.
Những điều vừa trình bày ở trên, xem ra nặng phần lý thuyết. Vì thế, bây giờ gã xin đi vào đời thường để đưa ra mấy thứ tình yêu thật cụ thể, không chừng mỗi người chúng ta đều đã gặp phải.
Gã tạm chia thành ba thứ, đó là tình yêu “nếu”, tình yêu “vì“ và tình yêu “dù”ø. Ba chữ nếu, vì và dù là những yếu tố then chốt, quyết định cho đặc tính và tên gọi cho mỗi thứ tình yêu.
Vậy trước hết, thế nào là tình yêu nếu ?
Đây là thứ tình yêu thường xuất hiện vào giai đoạn đầu khi hai người mới quen nhau. Thực vậy, vào cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, người ta vừa mơ mộng lại vừa so đo, vừa thi vị hóa lại vừa cụ thể hóa tình yêu, để rồi đưa ra những điều kiện thế này thế nọ cho tình yêu được nảy mầm và lớn lên, đâm bông và kết trái.
Nói huỵch toẹt ra thì đây là một thứ tình yêu có tính toán, có điều kiện :
- Nếu anh thế này…thì em sẽ yêu anh.
- Nếu em thế kia…thì anh sẽ yêu em.
Một trong những chữ nếu tệ hại nhất mà nhiều chị nàng ngây thơ đã bị sập bẫy và đã trở thành nạn nhân đáng thương, đó là :
- Nếu em…”cho” anh, thì anh sẽ yêu em mãi mãi. Nếu em thỏa mãn những đòi hỏi của anh, thì anh sẽ yêu em trọn đời.
Trước những lời dụ dỗ đường mật ấy, nhiều chị nàng đã phe lờ những cảnh cáo của cha mẹ, cũng liều nhắm mắt đưa chân, để rồi cuối cùng đã phải cúi mặt lãnh nhận hậu quả thảm khốc của đau khổ và nước mắt vì sự lầm lỡ và dại dột của mình, đúng là :
- Kiếm củi ba năm thiêu một giờ.
Còn anh chàng, một khi đã được thỏa mãn, lập tức quên béng ngay mất những thề thốt khi trước và lộ nguyên hình là một chàng họ sở tên khanh, bèn quất ngựa truy phong, phóng lên ngựa chạy biến mất tiêu, để chị chàng ở lại ôm mối hận một đời.
Có lẽ cũng vì thế mà tại các ký túc xá sinh viên, nạn “ăn cơm trước kẻng” vẫn cứ liên tục phát triển, và Việt Nam, con số những người nạo hút và phá thai cao vào bậc nhất trên thế giới, nhất là đối với những cô gái còn non trẻ.
Tuy nhiên, thứ tình yêu nếu này mới chỉ là như một chứng bệnh ngoài da, phớt qua mà thôi. Bởi vì tới một lúc nào đó, người ta sẽ sáng mắt ra, không thể ngồi đấy mà sống với những chữ nếu, những ảo tưởng, như dân tây chính hiệu con nai vàng ngơ ngác đã bảo :
- Với những chữ nếu, người ta có thể bỏ kinh thành Paris vào trong một cái chai.
Tiếp đến, thế nào là tình yêu vì ?
Mấy ông triết gia lẩm cẩm, thường phát biểu như sau :
- Phàm đã là người thì mỗi khi hành động thì đều có lý do riêng của mình.
Cũng vậy, khi yêu người ta cũng đưa ra những lý do này lý do khác để biện minh cho việc làm của mình. Anh yêu em vì em thế nọ. Còn em yêu anh vì anh thế kia. Thứ tình yêu này chẳng cần màu mè hoa lá, nhưng mang nặng tính cách thực dụng.
Cô gái nọ yêu chàng trai kia. Mọi người đều lên tiếng can ngăn vì chàng trai kia không đủ tiêu chuẩn. Ngay cả cha sở cũng phải lắc đầu ngao ngán. Thế nhưng cô gái đã trả lời :
- Con dứt khoát phải lấy anh ấy, vì anh ấy đẹp trai và gia đình anh ấy lại giàu có. Ít nữa ra mắt con phải nhìn thấy một cái gì cụ thể chứ.
Đám cưới của họ được tổ chức một cách linh đình và trọng thể, trong nhà thờ chính tòa cũng như trong một nhà hàng năm sao. Cưới nhau xong họ liền có một chiếc xe hơi và một căn nhà bề thế. Cô gái hoàn toàn thỏa mãn với chỉ tiêu được hoàn thành.
Thế nhưng, chỉ ba tháng sau, cô gái tới gặp cha sở với khuôn mặt sưng vù vì bị chồng đánh sau một trận nhậu thiếu xỉn thừa say. Cô gái khóc lóc thảm thiết :
- Biết thế này thì…
Và cha sở cũng phải thở dài :
- Bây giờ thì con đã nhìn thấy một cái gì cụ thể rồi chứ ?
Người ta có thể đưa ra nhiều lý do cho sự chọn lựa của mình, nhưng cuối cùng xem ra cũng không ngoài ba lãnh vực, đó là sắc đẹp, tiền bạc và quyền thế.
Thứ nhất, đó là sắc đẹp. Em yêu anh vì anh bảnh trai lại còn hào hoa phong nhã. Anh yêu em vì em đẹp gái.
Lãnh vực này thường cuốn hút mấy anh đờn ông nhiều hơn. Nói vậy không có nghĩa là mấy chị đờn bà chẳng để ý tới ngoại hình của cánh mày râu đâu nhé. Bằng chứng là khối bà khối cô mê như điếu đổ mấy anh chàng tài tử, ca sĩ, cầu thủ đẹp giai như Elvis Presley, David Beckham…Mấy ông thần tượng này mà đi tới đâu, thì không thiếu đờn bà con gái liền bâu tới đó!!!
Thế nhưng suy cho cùng, có tuổi trẻ nào mà không già, có sắc đẹp nào mà không bị thời gian gậm nhấm, cũng như có sắc đẹp nào mà không bị tàn phai dưới ánh nắng mặt trời.
Khi sắc đẹp không còn nữa, khi cái lý do yêu đã đổ ngả đổ nghiêng, thì lập tức người ta liền đi tìm một đối tượng khác để điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa, đúng như ca dao Việt Nam đã diễn tả :
- Còn duyên anh cưới ba heo,
Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi.
- Còn duyên kén cá chọn canh,
Hết duyên rốc đực, cua kềnh cũng vơ.
- Còn duyên kén những trai tơ,
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
Thứ hai, đó là tiền bạc. Em yêu anh vì anh có nhiều tiền. Anh yêu em vì gia đình em giàu sang.
Lãnh vực này thường cuốn hút mấy chị đờn bà nhiều hơn vì họ muốn thấy được một cái gì cụ thể, bảo đảm cho tương lai của mình, như một câu danh ngôn đã bảo :
- Người ta lấy vàng để nhử đờn bà. Người ta lấy đờn bà để nhử đờn ông. Và người ta lấy đờn ông để tìm ra vàng.
Đúng là cái vòng lẩn quẩn!!!
Nói vậy không có nghĩa là mấy anh đờn ông chẳng để ý tới sự bề thế của gia đình vợ đâu nhé. Bởi vì không thiếu gì những anh đờn ông nhắm chỗ giàu sang để tá túc, chẳng quản ngại thân phận ở rể. Cưới xong một phát là đã có được một căn nhà đầy đủ tiện nghi, đỡ tốn sức lao động, đổ mồ hôi sôi nước mắt. Mấy anh đờn ông loại này đã chẳng được xã hội phong cho hàm kỹ sư đào mỏ đó sao.
Thế nhưng, tiền bạc vốn dĩ là cái ở bên ngoài chúng ta, nay còn mai mất. Và khi tiền bạc không còn nữa, thì tình yêu cũng chấp cánh bay cao :
- Bây giờ tiền hết, gạo không,
Thì anh ở lại mà trông lấy hòm.
Thứ ba, đó là quyền thế. Em yêu anh vì anh là bác sĩ, là kỹ sư…Còn anh yêu em vì ông già em là chủ tịch, là giám đốc…
Lãnh vực này thường được cả đờn ông lẫn đờn bà nhắm tới. Thực vậy, có những chị đờn bà ngày hôm trước còn bán thịt lợn ngoài chợ, hay bầu bạn với nồi niêu xoong chảo trong xó bếp, nhưng ngày hôm sau đã nghiễm nhiên được cả và thiên hạ gọi là bà bác sĩ, bà kỹ sư, bà chủ tịch, bà giám đốc…kể ra thì cũng thích và cũng oai. Đây chính là một tước hiệu từ trời rơi xuống, chẳng tốn đồng xu cắc bạc nào cả, cũng chẳng cần kèn cựa tranh đua chi cả.
Lại cũng có những anh đờn ông đi vào hôn nhân, nhắm tới người vợ thì ít, nhưng nhắm tới ông bố vợ thì nhiều, bởi vì ông bố vợ là một người thế lực, mà anh ta có thể dùng làm bàn đạp, hay dùng làm chiếc thang để leo dần lên từng nấc danh vọng. Anh ta không đứng trên đôi chân của mình, mà đã mượn đỡ và đứng trên đôi chân của ông bố vợ cơ đấy!
Một khi thứ tình yêu nếu và tình yêu vì được đem đi kiểm nghiệm và phân chất, hẳn chúng ta sẽ thấy chúng thuộc loại tình yêu ấu trĩ, tình yêu vị kỷ, tình yêu vì mình, bởi vì mọi thứ từ tiền bạc đến quyền thế, từ ông bố vợ đến ngay chính người vợ nữa, tất cả đều được dùng để phục vụ cho cái tôi của mình. Nói cách khác, đây là một thứ tình yêu dổm, một thứ tình yêu trá hình, một thứ tình yêu ngụy tạo mà thôi.
Sau cùng, thế nào là tình yêu dù ?
Theo gã nghĩ : đây mới là loại tình yêu thứ thiệt, tinh ròng, không pha thêm tạp chất như hai thứ tình yêu kia. Đây mới là loại tình yêu trưởng thành, vị tha và vì người.
Trong thứ tình yêu này, người ta sẵn sàng chấp nhận những khuyết điểm, những thiếu sót của nhau :
- Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.
Trong thứ tình yêu này, người ta sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để đem lại hạnh phúc cho nhau :
- Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Để rồi :
- Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.
Và theo các nhà đạo đức, thứ tình yêu này chính là một phản ảnh trung thực cho tình yêu của Thiên Chúa, bởi vì :
- Thiên Chúa hằng yêu thương con người, dù con người đã phản bội Ngài. Thiên Chúa hằng yêu thương chúng ta, dù chúng ta là kẻ tội lỗi.
Đi vào thực tế, gã thấy thứ tình yêu dù đã được xuất hiện dưới nhiều hình thức, cụ thể là để đáp ứng với những tiêu chuẩn mà thứ tình yêu vì đã đưa ra.
Đáp ứng với tiêu chuẩn sắc đẹp : dù chị nàng có xấu như Chung Vô Diện trong truyện Tàu, thì anh chàng cũng vẫn yêu lấy yêu để :
- Mũi em mười tám gánh lông,
Chồng yêu, chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu, chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu, chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu, chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
Đáp ứng với tiêu chuẩn giàu sang : dù anh chàng có nghèo rớt mùng tơi, có là dân khố rách áo ôm chăng nữa, thì chị nàng cũng vẫn mê tít thò lò :
- Chồng ta áo rách, ta thương,
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.
- Yêu nhau chẳng quản chiếu giường,
Dẫu rằng tàu lá che sương cũng tình.
Đáp ứng với tiêu chuẩn quyền thế : dù anh chàng có là phó thường dân nam bộ, vai nặng chân trơn, hay bần cố nông chăng nữa, thì chị nàng cũng vẫn cứ gắn bó khắng khít còn hơn cả keo Michelin, keo dán sắt, hay keo bẫy chuột :
- Yêu anh tâm trí hao mòn,
Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh.
Jean Wasa, một viên quan xứ Phần Lan, bị kết án tù chung thân vì tội phản loạn. Bà vợ là Catherine đã xin với nhà vua cho phép mình được vào trong tù, chia sẻ nếp sống đọa đày với chồng. Nhà vua cũng như mọi người hết sức khuyên ngăn.
Cuối cùng, bà đã phải rút chiếc nhẫn cưới cho mọi người xem. Trên chiếc nhẫn cưới này có khắc ghi hai chữ : “sola mors”, nghĩa là chỉ trừ có cái chết mà thôi.
Được phép của nhà vua, bà đã sống với chồng mười bảy năm trong tù, cho đến khi nhà vua băng hà và Jean Wasa được trả tự do.
Thứ tình yêu dù này làm cho gã nhớ tới lời cam kết mà đôi hôn nhân vốn thề thốt cùng nhau : dù thịnh vượng hay gian nan, dù khỏe mạnh hay bệnh hoạn, thì họ vẫn cứ chung thủy, yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày trong suốt cả cuộc đời.

Quả là tuyệt vời, khiến Thiên Chúa cũng phải hài lòng và mỉm cười!!!

Nghỉ - Chuyện phiếm của Gã Siêu

Cái nắng ban trưa thật chói chang như đổ lửa, oi bức đến độ làm cho mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Đang vật lộn với giấc ngủ chập chờn, thì bỗng chuông điện thoại reo vang. Lồm cồm bò dậy, tưởng người đẹp nào cơ chứ, ai dè hóa lại ra cụ chủ nhiệm đáng kính nhà ta. Sau một hồi vòng vo tam quốc, cà kê dê ngỗng đủ thứ chuyện trên trời cũng như dưới đất, cụ mới “dô đề” :
- Thiên hạ bên tây sắp dắt nhau đi nghỉ hè rồi đó, chú mày mau viết cho một mẩu, gọi là để bàn dân thiên hạ đề cao cảnh giác, phòng bệnh còn hơn chữa bệnh nhé.
Giữa lúc còn đang ngái ngủ, gã bèn trả lời “phăng xi lô” chẳng so đo và tính toán :
- Ôi giào, chuyện nhỏ mà.
Bây giờ ngồi vào bàn, đầu óc rỗng tuênh, bởi vì từ hồi cha sinh mẹ đẻ cho tới lúc này, đã măm mươi mấy tuổi rồi, mà nào có biết hè hiếc là đí gì đâu. Chỉ khi còn là “chú học trò thò lò mũi xanh” thì mới được nghỉ, bằng cách “tung hê” sách vở, rời xa trường lớp, về quê với bu được mấy tháng. Chứ một khi đã thò chân vào cuộc đời, thì làm gì có cơ may được đi hè trong tình trạng thắt lưng buộc bụng, kinh tế suy thoái, mắc chứng “viêm màng túi kinh niên”, làm không đủ ăn như hiện nay ở Việt Nam.
Và thế là gã bỗng nghiệm ra rằng :
- Không cái dại nào bằng cái dại mồm dại miệng.
Bởi vì như các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy. Một lời vừa tuột ra khỏi miệng, thì bốn ngựa cũng khó mà đuổi theo.
Thành thử những người khôn ngoan mới khuyên nhủ :
- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.
Đã trót hứa với cụ chủ nhiệm, thì cũng phải cố mà làm, như Nguyễn Du đã bảo :
- Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà xem con tạo xoay vần đến đâu ?
Để lấy khí thế cũng như tạo thêm niềm hứng khởi, gã bèn đứng lên, bắn một điếu thuốc lào. Thuốc ngấm vào tận lục phủ ngũ tạng, thở phào một cái và lim dim đôi mắt theo làn khói tỏa, gã bỗng thấy cuộc đời mới đẹp làm sao. Và thế là vội chạy ngồi vào bàn mà viết lấy viết để, kẻo tí nữa nó lại quên béng đi mất.
Phần lớn người Việt Nam hôm nay sống trên mảnh đất này chả dám nghĩ tới chuyện nghỉ hè. Cũng như phần lớn người Việt Nam ở nước ngoài, khi mới chân ướt chân ráo tới định cư ở quê một hương thứ hai, chả dám tơ tưởng đến việc xách va li cùng với bà xã và bày trẻ đi tắm biển hay lên núi thở hút những lọn khí trong lành.
Sở dĩ như vậy vì hôm nay ở đó và ngày xưa ở đây, mình chỉ là thân trâu ngựa, nai lưng ra kéo cày để mà kiếm sống. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm. Trong những ngày tháng xám xịt ấy thì nghỉ có nghĩa là bản thân và gia đình phả...treo niêu. Bởi vì :
- Có làm thì mới có ăn,
Không dưng ai dễ mang phần đến cho.
Hơn thế nữa, đồng lương trong những giờ làm phụ trội ấy cũng nhích hơn một chút, nên người ta hy vọng rằng sẽ “ky cóp” được thêm tí tiền còm, bảo đảm cho những sinh hoạt cần thiết cũng như cho tương lai về lâu về dài, bởi vì :
- Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
- Năng nhặt thì chặt bị.
Cho đến hôm nay, cuộc sống đã được ổn định và tương lai đã lóe sáng, chứ không còn âm u như chiều đông ảm đạm hay tăm tối như cuối con đường hầm, người ta mới bắt đầu tính đến chuyền đi nghỉ hè và mơ ước những giờ phút thênh thang, thoải mái lang bang thăm chỗ này chỗ nọ.
Bây giờ “đi nghỉ hè” đối với nhiều người Việt Nam ở nước ngoài, không phải là một cái “mốt thời thượng” theo kiểu “phú quí sinh lễ nghĩa”, hay “trưởng giả học làm sang” nữa, mà là một nhu cầu chính đáng, vừa hợp tình lại vừa hợp lý.
Thực vậy, trong một bản nhạc có nốt bổng thì cũng có nốt trầm, có dấu ngân thì cũng có dấu lặng. Nếu cứ bổng mãi và cứ ngân mãi thì hẳn sẽ đứt gân cổ lăn quay ra mà chết. Còn nếu cứ trầm hoài, lặng hoài thì đâu phải là bản nhạc nữa.
Horace, một thi sĩ gốc La mã, trong tác phẩm Odes đã viết như sau :
- Thần Apollo đâu có dương mãi cây cung của mình.
Lời phát biểu này muốn nói lên rằng :
- Đối với cây cung, có lúc dương thì cũng phải có lúc chùng. Chứ cứ dương mãi dương hoài, lúc nào dây cũng căng cũng thẳng, thì chẳng bao lâu nó sẽ bị gẫy hay bị đứt.
Tác giả sách Giảng viên trong Cựu ước đã xác định đại khái như sau :
- Ở dưới bầu trời này,
mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời.
Một thời để chào đời , một thời để lìa thế...
Một thời để khóc lóc, một thời để vui cười...
Một thời để làm thinh, một thời để lên tiến...
Một thời để yêu thương, một thời để thù ghét...
Một thời để gây chiến, một thời để làm hòa.
Và như thế, ắt phải có :
- Một thời để làm việc, một thời để nghỉ ngơi.
Gã xin “no table” nghĩa là miễn bàn tới những kẻ mắc bệnh “lươi huyền” mãn tính, hay nói một cách cụ thể hơn, mang tật lười biếng quanh năm, bởi vì họ nghỉ suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn, họ chơi suốt ngày này qua ngày khác, chẳng cần cuối tuần hay hè hiếc chi cả.
Ca dao tục ngữ đã diễn tả rất nhiều về họ. Trước hết họ là hạng người “há miệng chờ sung”. Chuyện rằng tại ngôi làng nọ có một anh chàng lười vào hạng siêu đẳng, được tôn làm sư phụ. Mặc dù bụng đang đói cồn đói cạo, nhưng lại được nằm dưới gốc một cây sung đầy trái chín, thế mà vị sư phụ khả kính này cũng chẳng thèm đứng lên, hái mà ăn, cứ nằm há mồm và chỉ nhai tóp tép trái nào rơi vào chính miệng mình mà thôi. Vì thế, chẳng bao lâu sư phụ bèn giã từ cõi sống mà về chầu tiên tổ.
Thứ đến, họ là hạng người làm ít ăn nhiều. Làm chẳng bao nhiêu mà ăn thì quả là...có vấn đề :
- Ăn như rồng cuộn, làm như cà cuống lội ngược.
- Ăn như thuyền chở mã, làm như ả chơi trăng.
Tác phong của họ được mô tả :
- Ăn thì ăn những miếng ngon,
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
- Ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng,
Có ai lấy tớ thì khiêng tớ về.
Hình ảnh tiêu biểu cho hạng người lười này là hình ảnh của một ông chú…thân thương :
- Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nghiện chè tàu, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
Đối với những người chăm chỉ làm việc, nghỉ ngơi không phải chỉ là một quyền lợi, mà nhiều lúc còn là một bổn phận cần làm ngay, nghĩa là… phải nghỉ, phải ngơi.
Nói thế, hẳn nhiều người cho rằng gã đang về hùa với những kẻ lười biếng, chỉ thích ngồi nhà mát mà ăn những bát vàng. Đứng trước mọi công việc, chỉ thầm mong được người ta chọn làm người chỉ đạo nghĩa là đứng chỉ tay mà chẳng phải đụng vào, hay được người ta bàu làm giám đốc nghĩa là chỉ dám đốc, dám xúi mà lại chẳng dám làm.
Thế nhưng, ở đây gã xin thề độc thề địa :
- Chết sa...đó là sự thật.
Bởi vì phen này gã nói có sách, mách có chứng hẳn hoi, chứ chẳng phải tán hiêu tán vượn và phệu ra đâu nhé.
Thực vậy, trong Tin mừng có lần Chúa Giêsu đã xác quyết :
- Cha Ta làm việc và Ta cũng làm việc.
Mà theo luật thì :
- Đã làm việc cật lực thì cũng phải được nghỉ ngơi.
Đúng thế, Sách Sáng thế ký đã kể lại việc Thiên Chúa dựng nên trời và đất cùng muôn vật muôn loài như sau :
Ngày thứ nhất Ngài dựng nên ánh sáng, rồi phân rẽ ánh sáng và bóng tối, Ngài gọi ánh sáng là ngày và bóng tối là đêm. Ngày thứ hai Ngài dựng nên một cái vòm và nước, rồi phân rẽ chúng, Ngài gọi cái vòm là trời. Ngày thứ ba Ngài bắt nước phải tụ lại một nơi để lộ ra chỗ cạn. Ngài gọi chỗ cạn là đất và khối nước là biển, rồi đất trổ sinh mọi thứ cây cỏ. Ngày thứ tư Ngài dựng nên mặt trời mặt trăng cùng muôn vì tinh tú. Ngày thứ năm Ngài dựng nên chim trời cá biển cùng mọi loài sinh vật trên mặt đất. Ngày thứ sáu Ngài dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Thế rồi ngày thứ bảy, sau khi hoàn tất công trình, Ngài đã nghỉ ngơi.
Không những Thiên Chúa nghỉ ngơi mà Ngài còn muốn chúng ta noi gương bắt chước Ngài, cũng nhỉ ngơi như vậy sau khi đã làm việc. Đúng thế, sách Xuất hành đã kể lại việc Thiên Chúa truyền cho ông Mai sen mười điều răn được khắc ghi trên hai bia đá tại đỉnh Sinai. Điều răn thứ ba đã mói rõ như sau :
- Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động, nhưng ngày thứ bảy ngươi sẽ nghỉ, dù đang vụ cày hay vụ gặt, ngươi cũng sẽ nghỉ.
Điều răn này rất quan trọng và được quy định một cách khắt khe :
- Ngày thứ bảy sẽ là một ngày thánh, một ngày sabát, một ngày nghỉ hoàn toàn, dành cho Đức Chúa, kẻ nào làm việc trong ngày ấy sẽ bị xử tử. Anh em sẽ không được đốt lửa trong ngày sabát tại những nơi mình ở.
Dân Do thái đã tuân giữ điều răn này một cách rất nghiêm minh. Trên đường trở về miền đất hứa, họ phải lang thang trong sa mạc suốt bốn mươi năm và suốt khoảng thời gian này, Thiên Chúa đã nuôi sống họ bằng manna bởi trời. Thế nhưng, họ phải lượm manna ngay từ hôm trước mà dành sẵn cho ngày thứ bảy. Thậm chí khi bị quân địch xông đánh vào ngày thứ bảy, họ thà chịu chết chứ không cầm vũ khí chống cự.
Từ chỗ nghiêm minh họ đã đi đến chỗ khắt khe và thái quá. Chính vì thế chúng ta hiểu được tại sao bọn biệt phái lại chỉ trích việc Chúa Giêsu chữa lành cho những người đau ốm vào ngày thứ bảy.
Thế nhưng, Chúa Giêsu đã có lập trường dứt khoát của riêng mình :
- Ngày sabát được phép làm điều lành...Ngày sabát được dựng nên vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabát.
Như vậy việc nghỉ ngơi ngày sabát thời xưa hay ngày Chúa nhật thời nay là một điều răn buộc phải tuân giữ. Cùng với sự ổn định về kinh tế, trong dịp cuối tuần người ta được nghỉ không phải chỉ một ngày mà những hai ngày, đó là ngày thứ bảy và Chúa nhật.
Lần kia, sau khi các môn đệ đi thực tập truyền giáo trở về và đang kể cho Ngài nghe những việc mình đã làm và những điều mình đã dạy, Chúa Giêsu liền khuyên các ông như sau :
- Các con hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.
Như vậy nghỉ ngơi quả là một điều cần thiết, bởi vì kinh nghiệm bản thân cho thấy :
- Có nghỉ ngơi thì mới hoàn tất một cách tốt đẹp, hay ít nữa có nghỉ ngơi thì mới bắt đầu lại một cách hăng say.
Vì thế, sau một giờ học chăm chỉ người ta có những giây phút giải lao. Sau một ngày làm việc miệt mài, người ta có những giờ ban đêm để ngủ nghỉ. Sau một tuần làm việc cần cù người ta có những ngày cuối tuần để xả hơi. Sau một năm làm việc vất vả , người ta có những tuần phép để đi đây đi đó, mà gã xin tạm gọi chung chung là đi...nghỉ hè. Và sau một đời làm việc nhọc nhằn, người ta có những tháng năm để...hưu dưỡng.
Nghỉ ngơi không phải chỉ là điều cần thiết, mà lắm lúc còn là điều bắt buộc :
- Phải nghỉ ngơi để lấy lại sức khỏe cho bản thân, phải nghỉ ngơi để có thời giờ chăm sóc cho gia đình và những người thân yêu.
Nhiều đứa con đã hư hỏng chỉ vì cha mẹ mải mê mánh mung không để ý tới chúng. Nhiều ông chồng đã mất toi bà vợ “xinh xỉnh xình xinh” của mình cũng chỉ vì miệt mài áp phe áp chảo hay ngâm kíu ngâm kiếc, yêu việc hơn yêu vợ, không ngó ngàng chi đến nhà với cửa, tới khi “ngộ ra” thì quá muộn, nàng đã xé toạc tờ hôn phối hay đã khăn gói bước theo kẻ khác để được chiều chuộng và quan tâm hơn.
Nghỉ ngơi là điều cần thiết và bó buộc, thế nhưng, phải nghỉ ngơi như thế nào ? Đó mới là chuyện quan trọng cần phải bàn bạc. Gã tạm chia sự nghỉ ngơi làm hai loại, sự nghỉ ngơi của quí vị con nít và sự nghỉ ngơi của quí vị người nhớn.
Trước hết là sự nghỉ ngơi của quí vị con nít.
Như chúng ta đã biết con nít vốn hiếu động, nhất là bọn nhóc tì “húi cua”, vì thế trong những lúc rảnh rỗi, không thể nào bắt chúng ngồi yên như pho tượng hay quì “chắp tay xỏ lỗ mũi” mà cầu nguyện hồi lâu, bởi vì chúng luôn nghí ngoáy, quay bên nọ, ngó bên kia. Đối với chúng, nghỉ có nghĩa là chơi. Hễ lúc nào nghỉ ngơi là lăn xả vào vui chơi lúc ấy. Nhưng phải chơi ra làm sao ?
Các cụ ta ngày xưa vốn căn dặn :
- Học ăn học nói học gói học mở.
Điều căn dặn này cho thấy chúng ta phải học tất cả từ những điều tầm thường và nhỏ mọn nhất. Chơi tuy dễ mà lại khó, tuy đơn giản mà lại phức tạp, bởi vì rất nhiều người đã chẳng chơi cho phải phép. Chính vì thế, trên lá cờ của thế vận hội người ta thêu hai chữ “Fair Play”, có nghĩa là “Chơi Đẹp”. Để được chơi đẹp, thiết tưởng những người có trách nhiệm hướng dẫn nên nhắc quí vị con nít mấy điều sau đây :
Thứ nhất là phải chơi cho đúng lúc.
Thực vậy, người ta thường bảo :
- Giờ nào việc nấy.
Học thì phải cho ra học, còn chơi thì phải cho ra chơi. Ngồi trong lớp học, thay vì nghe thày cô giảng bài, lại vác cờ ca rô ra mà chơi với nhau, chắc chắn là bấn ổn rồi. Thời giờ là vàng. Hãy biết lợi dụng nó để trau dồi kiến thức, làm giàu cho bản thân và làm đẹp cho cuộc sống. Bởi vì thời giờ đã qua đi thì sẽ chẳng bao giờ trở lại.
Người xưa cũng đã xác quyết :
- Ấu bất học, lão hà vi.
Bé mà không học, thì lớn lên chỉ còn cách “ bị gậy” đi ăn mày. Lúc đó có hối tiếc thì e rằng đã quá muộn.
Thứ hai là phải chơi cho đúng nơi.
Thực vậy, người ta cũng thường bảo :
- Mỗi việc đều có chỗ của nó.
Nhà thờ là để cầu nguyện. Trường lớp là để học hành. Sân bãi là để vui chơi. Nếu chúng ta lộn chuồng, chẳng hạn : chơi trong trường lớp, cầu nguyện ngoài sân bãi và học trong nhà thờ...thì quả thực chẳng ổn tí nào.
Thứ ba là phải chơi cho đúng cách.
Trong một cuốn sách bàn về thể thao, một tác giả Ăng lê đã viết như sau :
- Đừng bao giờ đổ lỗi cho người khác cũng như đừng bao giờ ăn gian và che dấu sai lỗi của mình. Dù được hay thua, cũng phải chơi cho đúng cách và chơi cho thật đẹp. Phải tôn trọng tinh thần thể thao hơn là chiến thắng.
Ngoài ra, chơi cho đúng cách còn có nghĩa là phải biết tự chủ, đừng cố tình chơi xấu làm người khác bị tổn thương. Chẳng hạn cố tình “cốp” vào chân đối phương đễ họ bị “đo sân” và phải bỏ dở cuộc chơi.
Khi về già, tướng Wellington, ngày kia đã trở lại thăm trường cũ. Ông đưa mắt nhìn khoảng sân rộng, nơi mà hồi xưa ông đã vui chơi với bạn bè. Rồi bằng một dáng bộ trầm ngâm, ông nói :
- Chính tại sân chơi này mà tôi đã thắng được Napoléon.
Đúng thế, chính tại sân chơi này, ông đã học được những bài học của sự can đảm, tự tin, cộng tác và yêu thương để rồi khi bước xuống cuộc đời ông đã thắng được mọi nỗi khó khăn, kể cả việc thắng được Napoléon tại Waterloo.
Tiếp đến là sự nghỉ ngơi của quí vị người nhớn.
Sự nghỉ ngơi này xem ra nhiêu khê và rắc rối hơn. Thời gian nghỉ ngơi phải là thời gian bồi bổ cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Thực vậy, nhờ nghỉ ngơi, thân thể lấy lại được sức khỏe, nhờ rảnh rỗi mà chúng ta có thể trau dồi thêm cho mình những điều cần thiết, chu toàn bổn phận tôn giáo, chăm sóc đến những người thân yêu như vợ chồng, con cái hay thực hiện công việc bác ái đối với những người chung quanh. Thế nhưng, rất nhiều lần người ta đã không làm như vậy.
Đúng thế, có những ông chồng đi làm về liền nằm dài trên ghế mà đọc báo hay xem truyền hình và...…chờ cơm, chẳng hề phụ giúp cho bà vợ trong chuyện bếp múc và nhà cửa. Nhất là vào cuối tuần, những ông chồng ấy liền vù đi đánh bài hay nhậu nhoẹt với bè bạn, mãi tới sáng thứ hai mới dẫn xác về. Thành thử những ngày nghỉ cuối tuần, đáng lẽ ra phải là dịp cho mọi người đoàn tụ và xum họp, thì bây giờ đường ai người ấy đi, việc ai người ấy làm. Ngày Chúa nhật cũng giống như ngày thường, gia đình lãnh lẽo và trống vắng như...Chùa Bà Đanh. Thậm chí có bà vợ đã phải tâm sự :
- Cuối tuần, mình rất muốn anh ấy ở nhà để vợ chồng tâm sự với nhau, cha mẹ trò chuyện cùng con cái, nhờ đó gia đình được thêm phần ấm cúng. Nhiều lúc mình mong nhận được những lời an ủi, hay ít nhất một bờ vai để tựa đầu mà cũng chẳng thấy. Nghĩ cũng tủi. Một mình vò võ. Chồng đi đằng chồng. Con cái đi đàng con cái. Biết làm sao bây giờ ?
Trên đây mới chỉ là sự nghỉ ngơi ngắn hạn như cuối ngày hay cuối tuần. Còn sự nghỉ ngơi tương đối dài hơn, chẳng hạn như nghỉ hè, thì sao ?
Với một cuộc sống ổn định và nhất là với một số “đô la” kha khá dằn trong bóp hay trong túi áo, người ta có quyền nghĩ đến và vẽ ra cả một chương trình cho chuyến đi nghỉ hè.
Đây không còn là là chuyện riêng tư của một thiểu số, nhưng đã trở thành chuyện chung chung của nhiều người. Kẻ phương tây thì chạy sang phương đông và trái lại người phương đông lại chạy sang phương tây. Kẻ phương bắc chạy xuống phương nam và trái lại người phương nam lại chạy lên phương bắc…thôi thì cứ loạn cào cào, muốn đi đâu thì đi, miền là có…tiền.
Riêng người Việt Nam mình ở nước ngoài thì nên như thế nào ?
Nếu ngân sách eo hẹp, người ta có thể dắt bầu đoàn thê tử đi từ thành phố này qua thành phố khác trong cùng một nước. Chẳng hạn ra biển để tắm nắng, hay lên núi để nhìn mây bay bay cũng như nghe suối chảy róc rách và thác đổ ầm ầm.
Còn nếu tiền bạc rủng rỉnh, người ta có thể đi nghỉ hè xuyên lục địa, từ nước này đến nước khác. Nhất là những nơi có nhiều danh lam thắng cảnh. Trong số những nước được đưa vào chương trình, thì hẳn phải có tên Việt Nam.
Thực vậy, người Việt Nam trở về Việt Nam là thượng sách, bởi vì Việt Nam chính là quê hương của mình. Và nếu dẫn theo con cái nữa thì lại càng tuyệt vời. Bởi vì con cái, nhiều đứa sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, chả có mấy tí hiểu biết về Việt Nam. Dẫn chúng về để chúng nhìn thấy đất nước mình hầu tạo được một gắn bó nào đó. Bằng không, một thời gian sau chúng hoàn toàn bị “Tây hóa” hay “Mỹ hóa” và sẽ bị…mất gốc.
Về Việt Nam quả thực mang nhiều cái lợi.
Cái lợi thứ nhất, đó là hâm nóng lại tình nghĩa ruột thịt, bè bạn, làng xóm.
Đúng thế, người Việt Nam mình vốn trọng nhân nghĩa, như tục ngữ đã xác quyết :
- Miếng trầu nên nghĩa, chuyến đò nên duyên.
Thế nhưng, tình nghĩa ấy dù có mặn nồng, nhưng không được hâm nóng, thì dần dần cũng sẽ nguội. Thời gian và không gian sẽ gậm nhấm và làm cho nhạt phai, như tục ngữ đã bảo :
- Xa mặt, cách lòng.
Hay như người dân tộc Tày-Nùng đã nói :
- Đường không qua lại cỏ tranh mọc,
Anh em không đi về thành người dưng.
Cái lợi thứ hai đó là giá cả sinh hoạt ở Việt Nam khá rẻ so với những nơi khác. Vì thế, với đồng đô la, người ta có thể mua sắm đủ thứ ở Việt Nam. Với đồng đô là, người ta có thể giúp đỡ bà con, thiết đãi bạn bè mà không hao xót lắm. Với đồng đô la, người ta có thể sống thoải mái trên đất nước này...ngay cả việc “sắm” cho mình một cô vợ trẻ cũng không quá tốn kém.
Và còn nhiều cái lợi khác nữa tùy theo đích nhắm của từng người. Dĩ nhiên gã không bao giờ làm quảng cáo cho các hãng du lịch, nhưng chỉ muốn nói lên tình cảm chân thành nhất của những con người rời xa quê hương, bởi vì :
- Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Có những người, thoạt đầu khi nói về Việt Nam thì đã dãy đay đảy như đỉa phải vôi, bởi vì còn đeo nặng dĩ vãng hay mang một thành kiến nào đó. Nhưng rồi khi đã về, thấy ấm lên tình người và không ngần ngại hẹn gặp lại nhau một ngày gần nhất.
Tuy nhiên, trong việc trở về Việt Nam cũng có một vài chuyện lôm côm, những chuyện lôm côm này gã đã từng mổ xẻ nhiều lần.
Chuyện lôm côm thứ nhất đó là bệnh nổ. Nhiều ông ở bên đó chỉ là dân cu li cu leo, nhưng về bên này bèn nổ tung và nghiễm nhiên trở thành bác sĩ, kỹ sư, chuyên viên này, chuyên viên nọ. Có những ông ở bên đó phải chạy đi vay ngân hàng hay bè bạn mới có tí tiền còm dằn túi, nhưng về bên này liền ăn tiêu xả láng cho thiên hạ phục sát đất. Có những ông ở bên đó chỉ biết nói chuyện với Mỹ bằng tay và rất thạo chia động từ “to quơ”, nhưng về bên này mở mồm ra nói, thì câu nào cũng chêm nấy tiếng Ăng lê cho ra vẻ con nhà học thức...Rồi thì chê ỏng chê eo nhưng điều kiện sinh sống tại Việt Nam.
Chuyện lôm côm thứ hai đó là bệnh lừa gạt. Với các mác Việt kiều, người ta sẵn sàng gạt tiền của người khác bằng cách bỏ vốn ma đầu tư cho những công ty ma, nghĩa là chẳng có trên thực tế. Với cái mác Việt kiều, người ta sẳn sàng lừa tình của những cô gái nhẹ dạ. Mặc dù ở bên đó đã đùm đề vợ con, nhưng về bên này vẫn muốn kiếm tí tình còm vắt vai để được chiều chuộng thỏa mãn mà chẳng tốn kém bao nhiêu...
Riêng các bà các cô, thì nhiều người về bên này bỗng dưng máu “shopping”, mua sắm nổi lên đùng đùng. Vì hàng ở bên này vừa rẻ lại vừa đẹp, nên nhìn thấy cái gì cũng mua cũng sắm.
Gã đã từng tháp tùng vợ chồng một chú em đi...chợ. Chị vợ luôn tay chỉ trỏ :
- Cái này, cái kia...và cái kia nữa.
Lúc đầu anh chồng còn vui vẻ để chứng tỏ mình “ga lăng”, nhưng rồi khuôn mặt bắt đầu đổi sắc, nhăn nhó và kèm theo cả một vài lời gắt gỏng :
- Mua gì mà mua lắm thế.
Thậm chí anh chồng phải lén tới chi nhánh ngân hàng rút tiền “ngoài dự tính” để trang trải cho những mua sắm phụ trội. Cuối cùng, những thứ mua sắm phụ trội này đành phải để lại Việt Nam vào tối hôm trước lúc ra phi trường vì không còn chỗ để mà chứa...
Kể ra thì còn dài dòng lắm. Nhưng thôi.
Chung quanh nhà chả có cây phượng nào. Mà phượng ở Việt Nam bây giờ cũng thay đổi theo thời tiết, nở hoa vào khoảng cuối tháng ba và khi hè về thì đã tàn. Riêng cái nắng thì vẫn chói chang như đổ lửa. Chính trong bầu khí oi ả này, gã bỗng nhẩm đi nhẩm lại bài “Hè về” đượm sắc tình Việt Nam của Hùng lân như một kết thúc :
- Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ,
Hè về trong tiếng gió chiều dật dờ,
Hè về gieo ánh tơ.